vanban.org

Bản án 122/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Vũ Quỳnh A được ly hôn anh Hồ Đình K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2026/HNGĐ - ST
Ngày 30/7/2026
Về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia
đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hoá và ông Nguyễn Yên Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên, thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kiều, chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2026 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 282/2026/TLST- HN&GĐ ngày 01 tháng 6 năm 2026 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2026/QĐST-HN&GĐ ngày 22 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 161/2026/QĐST-HN&GĐ ngày 14 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A, sinh năm 2003 (Có mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn E (thôn Đ cũ), xã Q, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Hồ Đình K, sinh năm 2001 (Vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn E (thôn Đ cũ), xã Q, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hồ Đình N, sinh năm 1974 (Có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn E (thôn Đ cũ), xã Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Vũ Quỳnh A trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Đình K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2022 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã Q, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn, chị và anh K chung sống với bố mẹ anh K là ông Hồ Đình N và bà Nguyễn Thị L. Chị và anh K được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau bình thường.

Ngày 04/8/2024, anh K đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc. Sau khi anh K đi làm ăn xa, chị ở nhà chung sống với bố mẹ chồng có phát sinh mâu thuẫn mẹ chồng và con dâu. Anh K nghe mẹ nên đã điện thoại về chửi bới, xúc phạm chị và đòi ly hôn. Tháng 3/2025 cho đến nay vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng hơn. Lý do mâu thuẫn do anh K không tôn trọng gia đình chị và chị. Anh K chưởi bới, xúc phạm thậm tệ đối với chị nhiều lần và đề nghị ly hôn, vợ chồng hiện không còn quan tâm gì đến nhau. Hiện tại chị không biết địa chỉ nơi anh K cư trú, làm việc tại Hàn Quốc.

Hiện nay chị không còn tình cảm với anh K, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình K.

- Về con chung: Chị và anh Hồ Đình K có 01 con chung là Hồ Anh Q, sinh ngày 02/9/2022. Hiện nay con chung đang được ông Hồ Đình N và bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành vì con còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ. Chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị.

Hiện nay, chị đang làm lao động tự do, thu nhập hàng tháng 10 đến 14 triệu đồng. Chị cam kết giành điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng con khôn lớn, trưởng thành.

Chị và anh K không ai có con riêng, không ai nhận nuôi con nuôi. Hiện nay, chị cũng không mang thai.

- Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Chị và anh K không vay nợ ai không ai nợ anh chị.

Tại phiên tòa, anh Hồ Đình K vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần. Tòa án cũng đã gửi công văn cho Phòng Q1 – Công an tỉnh N thì được biết hiện nay: “Anh Hồ Đình K xuất cảnh khỏi Việt Nam ngày 30/5/2026 và hiện tại vẫn chưa về Việt Nam”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn để nghị gia đình anh Hồ Đình K cung cấp thông tin, địa chỉ của anh K ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh K vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn, giải quyết về trách nhiệm nuôi con chung của chị A.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Hồ Đình N và bà Nguyễn Thị L thống nhất trình bày: Ông, bà là bố mẹ ruột của anh Hồ Đình K. Anh Hồ Đình K và chị Nguyễn Thị Quỳnh A1 kết hôn năm 2022 và có với nhau 01 con chung là cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 02/9/2022. Quá trình anh K và chị Quỳnh A1 chung sống với nhau tại gia đình bình thường từ sau khi kết hôn đến đầu năm 2024. Đến năm 2024, anh K và chị Quỳnh A1 phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay nên chị Quỳnh A1 đã làm đơn xin ly hôn anh K. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh K và chị Quỳnh A1 cụ thể như thế nào thì ông, bà không biết tường tận sự việc được. Từ tháng 8/2024 đến nay, anh K đi xuất khẩu lao động tại H; chị Quỳnh A1 đi làm ăn lao động tự do nên có nhờ ông, bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Anh Q từ năm 2024 cho đến nay. Hiện nay, chị Quỳnh A1 nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Hồ Đình K thì ông, bà không có ý kiến gì, do anh K và chị Quỳnh A1 tự quyết định hôn nhân của mình. Ông, bà không yêu cầu anh K và chị Quỳnh A1 trích trả công sức, chi phí gì liên quan về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Anh Q đối với ông, bà trong thời gian nuôi cháu Q như đã nêu trên. Hiện nay, anh K đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đi lại khó khăn nên không thể sắp xếp xếp thời gian, công việc để tham gia tố tụng tại Toà án. Anh K vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, bố mẹ và thăm hỏi cháu Q. Anh K hiện nay đang làm gì, sinh sống ở địa chỉ cụ thể nào tại Hàn Quốc thì ông bà không biết nên không biết thu nhập của anh K hiện nay bao nhiêu. Ông bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp của Toà án. Sau khi nhận được các thông báo trên, ông bà đã chụp ảnh gửi cho anh K biết, điện thoại trao đổi với anh K về các nội dung chị Quỳnh A1 yêu cầu Toà án giải quyết và anh K có ý kiến như sau: Về tình cảm: Anh K đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Vũ Quỳnh A. Về con: Anh K mong muốn Toà án giao cho anh K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh K và chị Quỳnh A là cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 02/9/2022. Anh K không yêu cầu chị Quỳnh A cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và nợ: Anh K không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, anh K không có yêu cầu gì khác

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 4 - Nghệ An phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị :

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Vũ Quỳnh A được ly hôn với anh Hồ Đình K.

- Về con chung: Đề nghị giao con chung là Hồ Anh Q, sinh ngày 02/9/2022 cho chị A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A và anh Hồ Đình K tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Vũ Quỳnh A với bị đơn anh Hồ Đình K. Hiện tại bị đơn anh Hồ Đình K đang có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại Thôn E (thôn Đ cũ), xã Q, tỉnh Nghệ An. Nên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hồ Đình K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc cũng như để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và xem như bị đơn từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có tại hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A, anh Hồ Đình K đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2022 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã Q, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn vợ chồng Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau bình thường. Đến ngày 04/8/2024, anh K đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc. Sau khi anh K đi làm ăn xa, chị A ở nhà chung sống với bố mẹ chồng có phát sinh mâu thuẫn mẹ chồng và con dâu. Anh K nghe mẹ nên điện thoại về chửi bới, xúc phạm chị A và đòi ly hôn. Tháng 3/2025 cho đến nay vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng hơn. Lý do mâu thuẫn do anh K không tôn trọng chị A và gia đình chị A. Anh K chưởi bới, xúc phạm thậm tệ đối với chị A nhiều lần và đề nghị ly hôn chị A, hiện tại thì vợ chồng không quan tâm gì đến nhau nữa, vợ chồng sống không có tình cảm gì với nhau. Do anh K không tham gia làm việc tại Tòa án nên Tòa án không thể phân tích hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ. Chị A xin ly hôn anh K, anh K không trình bày ý kiến, qua quá trình xác minh tại gia đình của anh K cũng đã thể hiện anh K không còn quan tâm đến gia đình vợ con, vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau nữa. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ được với nhau nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Vũ Quỳnh A được ly hôn anh Hồ Đình K.

Về con chung: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A, anh Hồ Đình K có 01 con chung là Hồ Anh Q, sinh ngày 02/9/2022. Con chung hiện nay đang ở với ông N, bà L là bố mẹ đẻ của anh K. Xem xét điều kiện hoàn cảnh của các bên cũng như xem xét đến con chung thì thấy hiện nay con chung Hồ Anh Q chưa được 04 tuổi đang còn nhỏ rất cần bàn tay chăm sóc của người mẹ. Chị A cũng có lời trình bày xin được nuôi con chung và cam kết có đủ khả năng cũng như điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung khôn lớn trưởng thành. Ngoài ra, hiện nay anh K đang đi làm ăn tại Hàn Quốc không biết ở đâu, làm gì, không có thời gian cũng như điều kiện để chăm sóc con chung khôn lớn trưởng thành. Do đó để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự cũng như đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho chị Anh nuôi con. Nên cần thiết giao con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc. nuôi dưỡng. Anh K có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung sau khi đã ly hôn là phù hợp theo Điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với việc trích công sức, chi phí liên quan đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà ông N, bà L không có yêu cầu gì trong quá trình con chung là Hồ Anh Q ở với ông bà nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết chị Nguyễn Vũ Quỳnh A không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Anh Hồ Đình K không có lời trình bày về việc chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu chị A, anh K có yêu cầu chia tài sản chung thì sẽ khởi kiện bằng vụ án chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí ly hôn sơ thẩm chị Nguyễn Vũ Quỳnh A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nạp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 469, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Vũ Quỳnh A được ly hôn anh Hồ Đình K.

Về con chung: Giao con chung là Hồ Anh Q (Giới tính: Nam), sinh ngày 02/9/2022 cho chị Nguyễn Vũ Quỳnh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Anh Hồ Đình K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A và có quyền, đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị A, anh K nếu có yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện vụ án chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Nguyễn Vũ Quỳnh A phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0004069 ngày 01/6/2026. Chị A đã nạp đủ tiền án phí. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Hóa Nguyễn Yên Dũng Nguyễn Hữu H

Cỡ chữ