- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Ngô Thị V xin ly hôn anh Phạm Đức V1"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST Ngày 29/12/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Thế Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Thái;
- Ông Nguyễn Văn Thụ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hà– Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 70/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị V, sinh ngày14/12/1983 Nơi cư trú: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx (chị V xin vắng mặt).
• Bị đơn: Anh Phạm Đức V1, sinh ngày 04/10/1980
Nơi cư trú: Thôn A, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx (anh V1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Ngô Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Đức V1 kết hôn ngày 26/4/2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh).
Sau khi kết hôn xong, chị và anh V1 về ở với nhau ngay và đã có 2 con chung. Sau khi sống với nhau một thời gian thì mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, hai bên không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Đến năm 2015 thì thì chị và anh V1 sống ly thân, chấm dứt về tình cảm, kinh tế, không còn quan hệ vợ chồng. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh V1 và đề nghị Toà án cho ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh V1 có 2 con chung là: Phạm Văn C, sinh ngày 06/02/2006 và Phạm Văn Đ, sinh ngày 31/10/2013. Hiện con Phạm Văn C đã trưởng thành, chị không yêu cầu giải quyết; chị xin nuôi con Phạm Văn Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Đức V1 đã được Toà án giao thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng. Nhưng anh V1 không đến Toà án làm việc và giao nộp chứng cứ.
- Bố đẻ anh V1 là ông Phạm Văn V2 cho biết: Anh V1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án. Nhưng anh V1 đi làm, không đến Toà án làm việc. Anh V1 có truyền đạt lại: Nếu chị V xin ly hôn, thì anh cũng đồng ý.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, nguyên đơn xin vắng mặt.
Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã được Tòa án cho thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều: 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 272 và Điều 273 của BLTTDS;
Các Điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân gia đình 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị V được ly hôn anh Phạm Đức V1.
- Về con chung: Giao cho chị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Văn Đ.
Anh V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Ngô Thị V có đơn xin ly hôn anh Phạm Đức V1 và giải quyết về con chung. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Ngô Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn anh Phạm Đức V1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ, đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Do đó Toà án xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị V và anh Phạm Đức V1 kết hôn ngày 26/4/2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh). Nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị V và anh V1 về ở với nhau ngay, hai người sống hạnh phúc một thời gian và đã có 2 con chung. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do: Trong cuộc sống, chị V và anh V1 có nhiều điểm không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đến năm 2015 thì chị V và anh V1 sống ly thân, không còn quan hệ vợ chồng nữa. Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị V và anh V1 về đoàn tụ. Tuy nhiên chị V giữ nguyên quan điểm xin ly hôn và xin vắng mặt, còn anh V1 vắng mặt, không đến Toà án cung cấp chứng cứ. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, vị phạm nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị V được ly hôn anh V1.
Về con chung: Chị V và anh V1 có 2 con chung là: Phạm Văn C, sinh ngày 06/02/2006 và Phạm Văn Đ, sinh ngày 31/10/2013.
Hiện con Phạm Văn C đã trưởng thành, tự lo được cuộc sống, chị V không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
Chị V xin nuôi con Phạm Văn Đ, sinh ngày 31/10/2013, cháu Đ cũng có nguyện vọng ở với mẹ, nên cần giao con Đ cho chị V trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Quyền thăm con: Anh V1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V1 thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con cho nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nếu sau này các đương sự có yêu cầu và theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.
Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 56, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị V được ly hôn anh Phạm Đức V1.
2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Văn Đ, sinh ngày 31/10/2013 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh V1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V1 thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.
Tiền án phí được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001280 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị V đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND khu vực 4 - Bắc Ninh; - Thi hành án DS tỉnh Bắc Ninh; - UBND xã Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh; - Đương sự; - Lưu HS+VT. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thế Vinh |