- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà H khởi kiện yêu cầu ông H1 trả nợ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H đối với ông Trần Văn H2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 122/2025/DS-ST Ngày: 20/9/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Săng.
Ông Nguyễn Tường Bích.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long. Ngày 20 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 123/2025/TLST-DS, ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXX-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1961 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu H1, sinh năm 2000 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, xã B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H2, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 09/4/2025, Bản tự khai ngày 04/8/2025 và những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H là chị Võ Thị Thu H1 trình bày như sau:
Do có quen biết từ trước nên bà bà Võ Thị Thu H có cho ông Trần Văn H2 vay nhiều lần, mục đích làm ăn cá nhân như sau:
Lần 1: Vào ngày 27/8/2022 (30/7/2022 âm lịch), bà Võ Thị Thu H có cho ông Trần Văn H2 vay số tiền 250.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 06 tháng, khi vay có viết giấy nợ, có người làm chứng.
Lần 2: Vào ngày 08/12/2022 (15/11/2022 âm lịch), bà Võ Thị Thu H tiếp tục cho ông Trần Văn H2 vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 06 tháng, khi vay có viết giấy nợ, có người làm chứng.
Lần 3: Vào ngày 16/01/2023 (25/12/2022 âm lịch), bà Võ Thị Thu H tiếp tục cho ông Trần Văn H2 vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, khi vay có viết giấy nợ, có người làm chứng.
Hẹn ngày 16/02/2023, ông Trần Văn H2 sẽ trả hết số tiền 650.000.000 đồng cho bà Võ Thị Thu H, tuy nhiên từ đó đến nay ông Trần Văn H2 không trả nợ dù bà H nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu.
Do đó, bà Võ Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn H2 trả số tiền vay là 650.000.000 đồng (S trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi 10%/năm từ ngày 16/01/2023 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án (20/9/2025) với số tiền 170.958.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng).
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ cho ông Trần Văn H2 các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Văn H2 vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Trần Văn H2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Võ Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn H2 trả số tiền nợ vay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Đơn xác nhận địa chỉ nơi cư trú bị đơn ngày 24/5/2025 của Công an thị trấn B thì ông Trần Văn H2 có đăng ký thường trú tại khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là khu phố B, xã B, tỉnh Vĩnh Long) và còn sinh sống tại địa phương. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng ông H2 vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Văn H2 là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Bà Võ Thị Thu H khởi kiện cho rằng có cho ông Trần Văn H2 vay số tiền 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng) đến nay chưa trả. Vì vậy, bà Võ Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn H2 trả số tiền nợ 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi 10%/năm từ ngày 16/01/2023 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án (20/9/2025). Cơ sở khởi kiện là “Giấy vay tiền ngày 30/7/2022 âm lịch, 15/11/2022 âm lịch, 25/12/2022 âm lịch”.
Xét, “Giấy vay tiền ngày 30/7/2022 âm lịch, 15/11/2022 âm lịch, 25/12/2022 âm lịch” có ghi rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể của ông Trần Văn H2, thể hiện rõ ông H2 đã nhận đủ số tiền vay 650.000.000 đồng (S trăm năm mươi triệu đồng).
Phía nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên cho vay là giao tài sản cho bên vay đầy đủ. Tuy nhiên, khi có yêu cầu trả nợ của bà Võ Thị Thu H thì ông Trần Văn H2 không trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn H2 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ, thông báo về việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án và triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến cũng như tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Trần Văn H2 vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến, đã thể hiện tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ông Trần Văn H2 nếu có ý kiến phản đối đối với các yêu cầu, tài liệu, chứng cứ của bà Võ Thị Thu H thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó nhưng ông Trần Văn H2 không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho sự phản đối của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc theo những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc là đúng quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những căn cứ trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H về số tiền vay 650.000.000 đồng (S trăm năm mươi triệu đồng) là có cơ sở và phù hợp với quy định tại các Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi suất hợp đồng vay: Bà Võ Thị Thu H yêu cầu tính lãi số tiền vay với lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 16/01/2023 cho đến ngày Tòa án giải quyết vụ án (ngày 20/9/2025).
Xét thấy, hợp đồng vay giữa bà Võ Thị Thu H và ông Trần Văn H2 là Hợp đồng vay có thời hạn, có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự, lãi suất các bên thỏa thuận là 1%/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Vậy, yêu cầu tính lãi số tiền trên của bà Võ Thị Thu H là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể:
650.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 8 tháng 4 ngày = 170.958.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Vậy, ông Trần Văn H2 có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Thu H số tiền vay là 820.958.000 đồng (T trăm hai mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng), bao gồm 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng) tiền nợ gốc, 170.958.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền lãi.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận và là người cao tuổi, có Đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên bà Võ Thị Thu H không phải chịu án phí và ông Trần Văn H2 phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Cụ thể:
820.958.000 đồng = 36.000.000 đồng + 20.958.000 đồng x 3% = 36.269.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H đối với ông Trần Văn H2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
2. Buộc ông Trần Văn H2 có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Thu H số tiền vay là 820.958.000 đồng (T trăm hai mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng), bao gồm 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng) tiền nợ gốc, 170.958.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Buộc ông Trần Văn H2 phải chịu số tiền án phí là 36.269.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Bà Võ Thị Thu H là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn giảm án phí nên được miễn án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trần Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (P.GĐKT,TT&THA); - VKSND khu vực 8 - Vĩnh Long; - THADS Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |