- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2024/HSST Ngày 04-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Cà Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 2001 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Nong Ỏ, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn Phú, sinh năm 1975 và bà Lò Thị Hiệp, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 103/2020/HSST ngày 24/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 10 tháng 3 năm 2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, Tổ công tác Công an xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nong Ỏ, xã B, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Cà Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
V t ch ng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có ch a bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn (theo Cà Văn T khai là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn).
Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 10/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đ tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy mẫu giám định, kết quả: số bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn trong gói nilon màu xanh, có khối lượng 0,25 gam. Trích toàn bộ 0,25 gam, ký hiệu T1 gửi giám định.
Kết lu n giám định số: 661/KL- KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 0,25 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đ sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn T đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 10/3/2024, Cà Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Nong Ỏ, xã B, huyện TC lên xã Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Mòn, xã Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La, T gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên dân tộc thái (T không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu xanh bên trong có Heroine và hồng phiến trộn lẫn với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vừa mua được ở túi quần đ ng trước bên trái đang mặc, rồi đi bộ về nhà. Khi T đi đến khu vực bản Nong Ỏ, xã B, huyện TC thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng v t ch ng.
Tại Cáo trạng số: 72/CT- VKSTC, ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo Cà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Cà Văn T đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đ truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đ đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:
Xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.
Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: một mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn T thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 10/3/2024 bị cáo Cà Văn T đ có hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chất ma túy (loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại bản Nong Ỏ, xã B, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 10/3/2024; Biên bản niêm phong v t ch ng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nh n đối tượng giám định; Kết lu n giám định số: 661/KL- KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người ch ng kiến.
Từ các căn c trên có đủ cơ sở kết lu n hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chất ma túy (loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Cà Văn T đ phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.
3 Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh x hội tại địa phương. Do đó cần có m c hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án đ được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5 Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Cà Văn T khai mua của một người nam thanh niên dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Mòn, xã Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 10/3/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không còn ch ng c nào khác ch ng minh. Do đó, buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
[6 V t ch ng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, v t không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.
[7 Về án phí: Bị cáo Cà Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cà Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về v t ch ng vụ án: Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ Cà Văn T - TTTPCMT, bắt ngày 10/3/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 067316, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Tại giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì có dán băng dính màu trắng. Bên trong có: một mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.
(Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 06/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
3. Về án phí: Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cáo Cà Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Bị cáo Cà Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thu n Châu (02 bản); - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - Trại giam; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |