vanban.org

Bản án 122/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Z được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên: Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2019, Hà Ngọc X, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Hà Minh Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2024 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12-7-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Điệu

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Z, sinh năm 2000; nơi đăng ký thường trú: Thôn 2, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Hà Kỳ Y, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị Z (nguyên đơn) khai:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng vào năm 2019. Sau cưới, vợ chồng chị Z, anh Y về chung sống tại thôn 2, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lao động, sinh hoạt dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng thờ ơ, lạnh nhạt và không quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn nên chị Z và anh Y hiện đã sống ly thân nhau. Nay chị Z nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị Z yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Y.

Về con chung: Chị Z khai chị và anh Hà Kỳ Y có 03 con chung tên Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2019, Hà Ngọc X, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Hà Minh Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2024. Từ khi sống ly thân đến nay cả hai con chung đều do chị Z nuôi dưỡng. Ly hôn, chị Z có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung.

Về nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Z khai chị và anh Hà Kỳ Y tự thoả thuận với nhau nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Z khai chị và anh Hà Kỳ Y không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Hà Kỳ Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, anh Y vẫn không có mặt để trình bày ý kiến về việc chị Phạm Thị Z xin ly hôn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Z và anh Y.

Về nội dung vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Z và anh Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Z và anh Y được ly hôn. Về con chung: Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y có 03 con chung là Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2019, Hà Ngọc X, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Hà Minh Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2024. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên, nguyện vọng của các đương sự và nguyện vọng của con chung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Z trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị Z không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị Z phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của phápluật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Hà Kỳ Y có nơi cư trú tại thôn 2, xã B, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, chị Z có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Y vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Z và anh Y.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y được xác lập vào năm 2019 là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Do mâu thuẫn nên chị Z và anh Y hiện đã sống ly thân nhau. Chị Z xin ly hôn, Tòa án đã triệu tập anh Y nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị Z xin ly hôn nhưng anh Y vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Z và anh Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị Z và anh Y được ly hôn.

Về con chung: Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y có 03 con chung là Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2019, Hà Ngọc X, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Hà Minh Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2024. Ly hôn, chị Z có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện từ khi sống ly thân đến nay, chị Z là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy giao cho chị Phạm Thị Z được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung tên Hà Văn Q, Hà Ngọc X và hà Minh Đức cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Z khai chị và anh Hà Kỳ Y tự thoả thuận nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Z khai chị và anh Hà Kỳ Y không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí Tòa án thì chị Phạm Thị Z phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Z được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên: Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2019, Hà Ngọc X, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Hà Minh Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2024 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Z phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Z đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010734 ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Z đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Phạm Thị Z và anh Hà Kỳ Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ