- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản - Công ty CP S - Nguyễn Linh T"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của Công ty Cổ phần S và ông Nguyễn Linh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2024/DS-ST Ngày: 27 – 9 – 2024 V/v tranh chấp về dân sự hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Dài;
2. Ông Trần Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp về dân sự hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay.
Địa chỉ trụ sở: Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật thứ nhất: Ông Somyot N. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo pháp luật thứ hai: Ông Kanokwatpaisal N1. Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thanh L, sinh năm 1990, địa chỉ: Số C, Đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Chức vụ: Nhân viên; là người đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền số 262/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Linh T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Số E, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Trần Thanh L, ông Nguyễn Linh T có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 21/6/2024, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, biên bản phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay có người đại diện theo hợp pháp là bà Trần Thanh L trình bày:
Ngày 02/10/2020, Công ty Cổ phần S và ông Nguyễn Linh T ký hợp đồng cầm cố có nội dung: Ông Nguyễn Linh T cầm cố cho Công ty TNHH S1 (nay là Công ty Cổ phần S) tài sản là 01 (một) xe gắn máy hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, Loại: Winner, Biển số xe: 66B1-501.79, Số khung: 2063GY347482, Số máy: KC26E1193555, Giấy chứng nhận đăng ký số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 cho ông Nguyễn Linh T. Số tiền cầm cố là 18.600.000 đồng. Thời hạn cầm cố là 18 tháng. Mục đích cầm cố để phục vụ tiêu dùng cá nhân. Ngày giải ngân là ngày 02/10/2020. Ngày thanh toán định kỳ là ngày 30 hàng tháng. Lãi suất cầm cố trong hạn là 1.1%/tháng và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Phí thẩm định tài sản là 4,0% /tháng. Sau khi ký hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 thì ông T ký giấy mượn xe để mượn lại tài sản cầm cố phục vụ nhu cầu đi lại, thời gian mượn xe là 30 ngày từ ngày 02/10/2020 đến ngày 02/11/2020. Sau khi nhận tiền và mượn tài sản cầm cố thì ông T không thanh toán cho Công ty các khoản tiền theo thỏa thuận.
Nay Công ty Cổ phần S Có Ngay thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông Nguyễn Linh T trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền gốc là 18.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn với lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 02/10/2020 đến ngày 02/4/2022 là 3.730.540 đồng, tiền lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính từ ngày 03/4/2022 đến ngày 27/9/2024 là 9.288.840 đồng, tổng cộng các khoản tiền gốc và lãi là 31.619.380 đồng; yêu cầu ông Nguyễn Linh T tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Công ty không yêu cầu ông T hoàn trả tài sản cầm cố theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe là xe gắn máy hai bánh, nhãn hiệu HONDA, Loại: WAVE, Biển số xe: 66B1-672.14, Số khung: 3918LY067711, Số máy: JA39E1403897, Giấy chứng nhận đăng ký số 036777 do công an tỉnh Đ cấp ngày 06/9/2018; do đã quá thời gian cầm cố, mượn xe và ông T hiện đang giữ tài sản cầm cố; Công ty chỉ yêu cầu ông T trả cho Công ty tiền gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn nêu trên. Công ty T1 trả lại cho ông T bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 cho ông Nguyễn Linh T.
- Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Linh T trình bày:
Ông Nguyễn Linh T thống nhất với trình bày của Công ty Cổ phần S Có Ngay về quá trình ký kết và nội dung hợp đồng cầm cố, giấy mượn tài sản cầm cố, số tiền cầm cố, lãi suất cầm cố trong hạn và quá hạn như trên. Từ khi nhận số tiền cầm cố và mượn lại xe thì do hoàn cảnh khó khăn nên ông T chưa trả cho Công ty khoản tiền gốc và lãi nào theo thỏa thuận. Do đó, ông T thống nhất ông T còn nợ Công ty số tiền gốc và lãi theo Công ty trình bày tại phiên tòa.
Nay ông T thống nhất chịu trách nhiệm trả cho Công ty số tiền gốc là 18.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn với lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 02/10/2020 đến ngày 02/4/2022 là 3.730.540 đồng, tiền lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính từ ngày 03/4/2022 đến ngày 27/9/2024 là 9.288.840 đồng, tổng cộng các khoản tiền gốc và lãi là 31.619.380 đồng; thống nhất trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Ông T thống nhất việc Công ty trả cho ông T bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 khi ông T trả xong nợ. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên ông T không đồng ý tự nguyện chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn có thực hiện nhưng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc: Ông T chịu trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay tiền gốc là 18.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn với lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 02/10/2020 đến ngày 02/4/2022 là 3.730.540 đồng, tiền lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính từ ngày 03/4/2022 đến ngày 27/9/2024 là 9.288.840 đồng, tổng cộng các khoản tiền gốc và lãi là 31.619.380 đồng; ông T tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Công ty có trách nhiệm trả lại cho ông T bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 cho ông Nguyễn Linh T. Về tiền án phí dân sự sơ thẩm: Do các đương sự không thỏa thuận được, nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông T có trách nhiệm chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần S Có Ngay; Văn bản v/v xác nhận chuyển đổi loại hình của doanh nghiệp số 127/ĐKKD ngày 23/5/2024 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh N (Bản sao);
- Giấy ủy quyền số 262/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023 và Văn bản xác nhận v/v ủy quyền số 10/2024/VBXN-SVN ngày 17/5/2024 của ông Kanokwatpaisal N1 (Bản chính);
- Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của ông Nguyễn Linh T (Bản photo, đã đối chiếu bản chính);
- Hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020; Giấy ủy quyền ngày 02/10/2020 của ông Nguyễn Linh T; Phiếu đăng ký cầm cố xe máy; Giấy mượn xe ngày 02/10/2020 của ông Nguyễn Linh T (Bản photo, đã đối chiếu bản chính).
- Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 30/7/2024 của Công ty Cổ phần S (Bản chính);
- Văn bản xác minh v/v cư trú đối với ông Nguyễn Linh T ngày 22/8/2024 của Công an xã A, huyện T (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tại hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 thể hiện bên cầm cố là Công ty TNHH S1. Căn cứ Văn bản v/v xác nhận chuyển đổi loại hình của doanh nghiệp số 127/ĐKKD ngày 23/5/2024 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh N thể hiện: “Công ty TNHH S1, mã số doanh nghiệp: 2901807716, đã chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành Công ty Cổ phần S Có Ngay. Thời điểm thực hiện: 11/10/2023”. Do đó, xác định nguyên đơn có quyền khởi kiện trong vụ án là Công ty Cổ phần S Có Ngay.
Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về dân sự hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Linh T hiện nay cư trú tại số E, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nên nguyên đơn khởi kiện vụ án tại Tòa án nơi bị đơn cư trú là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay xác định Công ty Cổ phần S Có Ngay chỉ yêu cầu ông Nguyễn Linh T chịu trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay tiền gốc là 18.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn với lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày 02/10/2020 đến ngày 02/4/2022 là 3.730.540 đồng, tiền lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính từ ngày 03/4/2022 đến ngày 27/9/2024 là 9.288.840 đồng, tổng cộng các khoản tiền gốc và lãi là 31.619.380 đồng; yêu cầu ông Nguyễn Linh T tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ; nguyên đơn không yêu cầu ông T trả tiền quản lý hồ sơ và hao mòn tài sản khi mượn xe như đã nêu tại đơn khởi kiện. Xét việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, có lợi cho bị đơn và phù hợp theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn ông Nguyễn Linh T thống nhất chịu trách nhiệm trả cho Công ty số tiền gốc và lãi nêu trên.
Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về cầm cố tài sản nội dung như sau:
“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
Xét việc giao kết hợp đồng cầm cố giữa các đương sự và tính hợp pháp của hợp đồng cầm cố: Căn cứ vào Hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020, thể hiện Công ty TNHH S1 (nay là Công ty Cổ phần S) có nhận tài sản cầm cố của ông T và ông T nhận số tiền cầm cố gốc của Công ty là 18.600.000 đồng. Nội dung Hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 cho thấy tại thời điểm Công ty TNHH S1 (nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) và ông T thỏa thuận về việc cầm cố tài sản thì các bên đều tự nguyện, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch về việc cho vay tiền, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy, hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 giữa các đương sự là hợp pháp.
Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:
“1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.
2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Tại Hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 thỏa thuận thời hạn cầm cố là 18 tháng, nên việc Công ty Cổ phần S Có Ngay xác định ông T chưa trả tiền và khởi kiện tại Tòa án vào tháng 6/2024 đến nay đã quá thời hạn trả nợ theo thỏa thuận; ông T cũng xác định chưa trả cho Công ty số tiền gốc và lãi nào kể từ ngày 02/10/2020, nên ông T đã vi phạm hợp đồng cầm cố đối với Công ty; do đó, ông T có nghĩa vụ trả tiền gốc còn nợ và tiền lãi cho Công ty.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc tính tiền lãi, lãi quá hạn, yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng đến khi ông T trả xong nợ: Căn cứ vào hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020, hai bên đã thỏa thuận lãi suất là 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên và không trái với quy định pháp luật, bị đơn cũng thống nhất có thỏa thuận về lãi trong hạn và lãi quá hạn nêu trên, nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi, tiếp tục tính lãi theo hợp đồng kể từ ngày 27/9/2024 là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Từ các nhận định nêu trên và căn cứ vào quy định pháp luật tại các Điều 280, Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015, có cơ sở xác định giữa Công ty TNHH S1 (nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) và ông Nguyễn Linh T có giao kết hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 với số tiền cầm cố là 18.600.000 đồng và có bảo đảm thực hiện hợp đồng bằng tài sản là chiếc xe mô tô của ông T. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Công ty khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 18.600.000 đồng, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tính tới ngày 27/9/2024 là 13.019.380 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 31.619.380 đồng; yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố ngày 02/10/2020 là có căn cứ. Bị đơn ông T cũng thống nhất chịu trách nhiệm trả cho Công ty số tiền gốc và lãi nêu trên. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; đo đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc trả tiền gốc và lãi nêu trên là phù hợp.
Xét về tài sản cầm cố: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định nguyên đơn không có yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, không yêu cầu ông T phải giao lại tài sản cầm cố mà ông T đã mượn. Nguyên đơn đã giao xe cho ông T theo giấy mượn xe ngày 02/10/2020 và nay chỉ yêu cầu ông T trả tiền gốc, lãi. Nay nguyên đơn thống nhất trả lại cho ông T bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 cho ông Nguyễn Linh T; ông T cũng thống nhất việc Công ty trả lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy; do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc trả bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy là phù hợp.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn ông Nguyễn Linh T phải có trách nhiệm chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 280, 309, 310 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 , Điều 244, Điều 246, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của Công ty Cổ phần S và ông Nguyễn Linh T.
Ông Nguyễn Linh T thống nhất chịu trách nhiệm trả lại cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền gốc còn nợ là 18.600.000 đồng (Mười tám triệu, sáu trăm nghìn đồng), tiền lãi là 13.019.380 đồng (Mười ba triệu, không trăm mười chín nghìn, ba trăm tám mươi đồng), tổng cộng là 31.619.380 đồng (Ba mươi một triệu, sáu trăm mười chín nghìn, ba trăm tám mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc còn thiếu theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố tài sản ngày 02/10/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Công ty Cổ phần S thống nhất có trách nhiệm trả lại cho ông T bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 036777 do Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/9/2018 cho ông Nguyễn Linh T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Linh T phải có trách nhiệm chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.580.000 đồng (Một triệu, năm trăm tám mươi nghìn đồng).
Nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.483.000 đồng (Một triệu, bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng) theo biên lai số 0006676 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CC THA DS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trang |