vanban.org

Bản án 122/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Mi S có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng C số tiền 100.

Kể từ ngày 28/12/2024, ông Nguyễn Mi S còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa ghi trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/4/2022 và Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 26/4/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ. Về án phí sơ thẩm: Ông Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng C - Nguyễn Mi S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Mi S có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng C số tiền 100.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH TRỊ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-ST
Ngày 27-12-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Chính.

2. Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ trụ sở: Số A, phố L, phường H, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1; Địa chỉ: ấp C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; là đại diện ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 167a/QĐ-NHCS ngày 31/5/2024 (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mi S, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/7/2024, quá trình giải quyết ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C (gọi tắt Ngân hàng) trình bày cho rằng: Vào ngày 26/4/2022, Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện T giải ngân cho ông Nguyễn Mi S theo mã món vay 6600000722930039 với số tiền 100.000.000 đồng của chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, lãi suất 8,25%/năm, thời hạn cho vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, số tiền gốc mỗi kỳ trả là 10.000.000 đồng, lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng và hạn trả cuối cùng ngày 10/4/2027. Sau khi vay đến nay, ông S trả vốn được 2.000.000 đồng là không thực hiện đúng theo thỏa thuận, theo hồ sơ vay vốn của ông S đã quá hạn theo phân kỳ và Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc trả nợ nhưng ông S không thực hiện. Tính đến ngày 18/7/2024, tổng số tiền mà ông S còn phải trả cho Ngân hàng 98.000.000 đồng là nợ gốc. Ngân hàng C yêu cầu buộc bị đơn ông Nguyễn Mi S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 98.000.000 đồng và tiền lãi sẽ được cộng thêm hàng tháng cho đến ngày trả tất nợ cho Ngân hàng. Theo đơn xin xét xử vắng mặt của ông Nguyễn Văn T1 và bản chiết tính lãi hộ Nguyễn Mi S, số tiền lãi ông S còn nợ đến ngày 27/12/2024 là 2.392.274 đồng.

- Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Mi S trình bày cho rằng ông có vay của Ngân hàng C – Phòng giao dịch huyện T tiền 100.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc và lãi thì ông đồng ý trả nhưng xin được trả dần theo phân kỳ Ngân hàng trình bày, trả đủ 01 lần ông không có khả năng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Nguyễn Mi S hoàn trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc 98.000.000 đồng và phải chịu trách nhiệm trả lãi theo thỏa thuận giữa các bên tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về tiền vay và lãi đối với bị đơn ông Nguyễn Mi S nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị thụ lý, xét xử sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đại diện bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu ông Nguyễn Mi S hoàn trả tiền vay, lãi tính đến ngày 27/12/2024 là 100.392.274 đồng, trong đó nợ vốn 98.000.000 đồng và nợ lãi 2.392.274 đồng. Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn giao nộp bản sao Sổ vay vốn của Nguyễn Mi S, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/4/2022, thể hiện số tiền vay 100.000.000 đồng, lãi suất 8,25%/năm, lãi quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay. Căn cứ thỏa thuận và cam kết tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/4/2022, ông Nguyễn Mi S chỉ trả được nợ gốc 2.000.000 đồng là không trả tiền gốc đúng theo thỏa thuận đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù món vay chưa đến hạn, theo quy định tại điểm c mục 2.1. đoạn 2 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tại Sổ vay vốn số 7067654036 thì Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Mi S chịu trách nhiệm trả toàn bộ vốn vay và lãi suất còn nợ là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Mi S phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Mi S có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng C số tiền 100.392.274 đồng (một trăm triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó nợ vốn 98.000.000 đồng và lãi 2.392.274 đồng.

2. Kể từ ngày 28/12/2024, ông Nguyễn Mi S còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa ghi trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/4/2022 và Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 26/4/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ.

3. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Mi S phải chịu án phí số tiền 5.019.613 đồng (năm triệu, không trăm mười chín nghìn, sáu trăm mười ba đồng). Nguyên đơn Ngân hàng C không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ