- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Minh và đồng bọn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các bị cáo Nguyễn Công M và Nguyễn Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HSST Ngày: 29/9/2023. s |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chi.
Bà Trương Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2023/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
01.Họ và tên: Nguyễn Công M; tên gọi khác: không; giới tính: nam;Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1996 tại tỉnh Quảng Nam;Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không;Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 205801876; cấp ngày 22/3/2018;Nơi cấp: Công an tỉnh Quảng Nam;Nơi thường trú: thôn Thanh A, xã Điện H, thị xã Điện B, tỉnh Q;Chỗ ở hiện nay: phòng số 02, dãy trọ K89/02 Đồng K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Họ và tên cha: ông Nguyễn T; sinh năm 1970; nghề nghiệp: LĐPT; Họ và tên mẹ: bà Nguyễn Thị P; sinh năm 1970; nghề nghiệp: LĐPT;Cùng trú tại xã Đ, thị xã Điện B, tỉnh Q; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: chưa.
Nhân Thân: Công an quận L, thành phố Đ ra Quyết định xử phạt hành chính số 435/QĐ- XPHC ngày 08/6/2023 về việc xử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu từ ngày 30/5/2023 đến nay, Có mặt.
02. Họ và tên: Nguyễn Công P; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày 02 tháng 10 năm 1995 tại tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 049095015479; cấp ngày; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTHX; Nơi thường trú: thôn B, xã Điện H, thị xã Đ, tỉnh Q; Chỗ ở hiện nay: phòng số 02, dãy trọ K89/02 Đồng K, phường H, quận L, thành phố Đ.(Có mặt).
Tiền án: vào ngày 08/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 28/11/2022, Phương chấp hành xong; Tiền sự: chưa.
Nhân Thân: Công an quận L, thành phố Đ ra Quyết định xử phạt hành chính số 436/QĐ- XPHC ngày 08/6/2023 về việc xử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ.
Họ và tên cha: không xác định;
Họ và tên mẹ: bà Nguyễn Thị N; sinh năm 1963; nghề nghiệp: làm nông; Cùng trú tại xã Điện H, thị xã Đ, tỉnh Q; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị can là con thứ hai; Vợ: chị Đặng Thị Mỹ D; sinh năm 1996; nghề nghiệp: buôn bán; Bị cáo có 02 con, sinh năm 2016 và 2017; Cùng trú tại phường K, quận C, thành phố Đ.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận L từ ngày 30/5/2023.(Có mặt).
- Người chứng kiến: Ông Võ Văn C , sinh năm 1954.
Đại chỉ: Tổ 44, phường H, quận L, thành phố Đ.(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ ngày 30/5/2023, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường H kiểm tra hành chính phòng trọ số 02, dãy trọ số K89/02 Đồng K, phường H. Qua kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Công P và Nguyễn Công M đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ:
+ 03 gói ni-lông bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy);
+ 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh;
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo, gắn thẻ sim 0789.459.945;
+ 01 điện thoại di động hiệu Mobell, gắn thẻ sim 0934.885.058.
Tại Kết luận giám định số: 469/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định: tinh thể màu trắng trong 03 gói ni-lông gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,665gam.
Quá trình điều tra, từ lời khai của Nguyễn Công P, Nguyễn Công M và các vật chứng thu giữ xác định: khoảng 09 giờ ngày 29/5/2023, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Nguyễn Công M rủ Nguyễn Công P mỗi người góp số tiền 400.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. P liên lạc với người tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) qua ứng dụng Zalo để mua ma túy và H hẹn gặp P tại đường cao tốc thuộc thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau đó, Nguyễn Công M mượn xe mô tô của bạn ngoài xã hội (M không nhớ biển số xe và chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này) để chở P đến điểm hẹn. Đến nơi, M đưa số tiền 800.000 đồng cho H, H đưa lại cho Minh 01 gói ma túy. Xong, cả hai về lại phòng trọ tại số K89/2 đường Đồng K, phường H, quận L, thành phố Đ. Tại phòng trọ, M chia ma túy thành 03 gói nhỏ cất dưới gầm giường để sử dụng sau. Đến khoảng 11 giờ ngày 30/5/2023, thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
* Xử lý vật chứng: toàn bộ vật chứng đã thu giữ tại mục (I) nêu trên và ma túy hoàn lại sau khi giám định sẽ chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời bảo quản, chờ xử lý.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 112/CT-VKS ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công M và Nguyễn Công P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Công P mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 469/KL-KTHS ngày 05/06/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng 0,453 gam ma túy Methamphetamine mẫu A và toàn bộ vỏ gói mẫu.
+ 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh.
* Tuyên trả lại cho các bị cáo:
-Nguyễn Công M 01 điện thoại di động hiệu Oppo, gắn thẻ sim 0789.459.945.
-Nguyễn Công Ph 01 điện thoại di động hiệu Mobell, gắn thẻ sim 0934.885.058.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2023.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công P: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ngày 29/5/2023 bị cáo M là người rủ bị cáo P góp số tiền 800.000/ 2 người để mua ma túy về sử dụng. Ngày 30/5/2023, tại phòng trọ số 02, dãy trọ số K89/2 đường Đồng K, phường H, quận L, thành phố Đ, Nguyễn Công M và Nguyễn Công P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,665gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.
Hành vi của M và P đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, các bị cáo M và P có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nên biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển…trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào thế nhưng vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Số ma túy thu giữ của các bị cáo 0,665gam, số ma túy này các bị cáo mua về để sử dụng. Hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác.
Trong vụ án này, Bị cáo M là người khởi xướng rủ bị cáo P mua ma túy về sử dụng, bị cáo P là người trực tiếp liên hệ cho H là người bán ma túy, xét các bị cáo đều có vai trò ngang nhau thuộc trường hợp là đồng phạm giản đơn; Do đó cần phải xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Công M không có.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Công P vào ngày 08/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 28/11/2022, Phương chấp hành xong, đến ngày 29/5/2023 P tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của P là tái phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nhân Thân: Khi các bị cáo bị bắt quả tang về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thì ngày 30/5/2023 thì cơ quan chức năng bắt giữ và xét nghiệm dương tính với ma túy và các bị cáo bị Công an quận L, tp Đ ra quyết định Quyết định xử phạt hành chính số ngày 08/6/2023 về việc xử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy các bị cáo không có tài sản và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo .
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 469/KL-KTHS ngày 05/06/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng 0,453 gam ma túy Methamphetamine mẫu A và toàn bộ vỏ gói mẫu và 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh.
* Tuyên trả lại cho các bị cáo: Nguyễn Công M 01 điện thoại di động hiệu Oppo, gắn thẻ sim 0789.459.945.
- Nguyễn Công P 01 điện thoại di động hiệu Mobell, gắn thẻ sim 0934.885.058.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2023.
Đối với người tên H đã bán ma túy M và P, quá trình điều tra đến nay vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của H. Ngoài ra, P khai nhận đã liên lạc với H qua ứng dụng Zalo nhưng P đã bị mất điện thoại nên không nhớ được tài khoản của H và tài khoản Zalo của P. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
. Đối với xe mô tô mà M và P sử dụng để đi mua ma túy, cả hai khai nhận không nhớ biển số xe và đến nay vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của người đã cho M mượn xe mô tô trên nên không có cơ sở để xử lý.
. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Công M và Nguyễn Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng hình phạt:
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công M 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 30/05/2023.
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 30/05/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy: Mẫu hoàn trả sau giám định số 469/KL-KTHS ngày 05/06/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng 0,453 gam ma túy Methamphetamine mẫu A và toàn bộ vỏ gói mẫu.
+ 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh.
* Tuyên trả lại cho các bị cáo: Nguyễn Công M 01 điện thoại di động hiệu Oppo, gắn thẻ sim 0789.459.945.
- Nguyễn Công P 01 điện thoại di động hiệu Mobell, gắn thẻ sim 0934.885.058.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2023.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Công P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu; - Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu; - Nhà tạm giữ CA quận Liên Chiểu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Đã ký Nguyễn Đức Hoàng |