- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐÌNH TH - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HSST Ngày: 19 - 12 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Quốc Tân
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Thanh Mai và bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2023/HSST ngày 14/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 15/11/2023; Thông báo Hoãn phiên tòa số 18/TB-TA ngày 26/11/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình Th, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1950; tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Phúc Tự Đông, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: hưu trí; trình độ học vấn phổ thông: lớp 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị D (đều đã chết); có vợ là Trần Thị B và 04 người con đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Th: ông Phan Trọng H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Bị hại:
+ Chị Võ Thị Thanh H, sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (đã chết).
+ Anh Võ Xuân H, sinh năm 2004; trú tại: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thị Thanh H- đồng thời cũng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Võ Xuân Ho, sinh năm 1973; trú tại: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/7/2023, Nguyễn Đình Th có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS 73V1 - 3602 theo hướng Bắc - Nam trên đường Quốc lộ 1A (QL1A) đi từ thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình để về nhà. Quá trình lưu thông, Nguyễn Đình Th điều khiển xe mô tô đi trên làn đường dành cho xe cơ giới phía ngoài sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, khi đi đến Km 649 + 420m đoạn đường QL1A thuộc thôn Phúc Tự Đông, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thảo điều khiển xe mô tô chuyển hướng vào làn đường dành cho xe cơ giới phía trong sát dải phân cách cứng ở giữa để qua đường thì va chạm với xe mô tô BKS 73F1-126.92 do Võ Xuân Hiệu điều khiển chở chị gái Võ Thị Thanh Hoa di chuyển cùng chiều phía sau gây tai nạn. Hậu quả: chị Võ Thị Thanh Hoa bị tử vong trên đường đi cấp cứu, anh Võ Xuân Hiệu bị thương nhẹ, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Đình Th sau khi xảy ra tai nạn là: 0.000mg/L, đối với Võ Xuân Hiệu là 0.000mg/L.
Bị hại anh Võ Xuân Hiệu bị thương nhẹ, quá trình điều tra đã có đơn từ chối giám định thương tích, nên không có sơ sở để xem xét thêm trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đình Th.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý trả lại: 01 xe mô tô BKS 73F1-126.92 cho ông Võ Xuân Hoàng; 01 xe mô tô BKS 73V1-3602 cho ông Nguyễn Đình Th. Thu giữ và chuyển đến chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 014543 mang tên Võ Xuân Hoàng, BKS 73F1-126.92 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô - xe máy số: 893426332699 mang tên Võ Xuân Hoàng, BKS 73F1-126.92 để xử lý vi phạm hành chính đối với Võ Xuân Hiệu vì lỗi không có giấy phép lái xe. Tiếp tục tạm giữ theo hồ sơ vụ án 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 009671 mang tên Nguyễn Đình Th; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số T890165, mang tên Nguyễn Đình Th và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số: BB 220 0833139 mang tên Nguyễn Đình Th, BKS 73V1-3602.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình Th đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Võ Thị Thanh Hoa số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Phía gia đình bị hại Võ Thị Thanh Hoa đã nhận đủ, cam đoan không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn xin bãi nại cho bị cáo Nguyễn Đình Th. Riêng Võ Xuân Hiệu bị thương nhưng không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Xe mô tô BKS 73F1-126.92 bị hư hỏng nhưng ông Võ Xuân Hoàng không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT - VKSBT ngày 13 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Đình Th từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho Nguyễn Đình Th 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 009671; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số T890165, và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô - xe máy số: BB 220 0833139 mang tên Nguyễn Đình Th; về trách nhiệm dân sự: bị hại, bị cáo, đại diện bị hại đồng thời cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đầy đủ nên không xem xét; bị cáo là người cao tuổi, có công với cách mạng đã có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh và các điều khoản mà đại điện Viện kiểm sát đề nghị, tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo ở mức từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Đại diện bị hại ông Võ Xuân Hoàng không có yêu cầu gì về mặt dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Đình Th nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Võ Xuân Hiệu, xét thấy trong hồ sơ đã có lời khai của Hiệu nên sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Th đều thống nhất khai nhận: ngày 11/7/2023, tại Km 649 + 420 m đoạn đường QL1A thuộc thôn Phúc Tự Đông, xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình bị cáo đã điều khiển xe mô tô BKS 73V1 - 3602 theo hướng Bắc – Nam do chuyển hướng không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 73F1 - 126.92 chạy cùng chiều do anh Võ Xuân Hiệu điều khiển chở chị Võ Thị Thanh Hoa gây tai nạn làm chị Hoa tử vong, anh Hiệu bị thương nhẹ và hai xe mô tô bị hư hỏng. Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi chuyển hướng không đảm bảo an toàn của Nguyễn Đình Th đã vi phạm vào khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã được học và được cấp giấy phép lái xe theo quy định lẽ ra bị cáo phải hiểu được rằng khi tham gia giao thông thì phải chú ý quan sát chấp hành đúng quy tắc giao thông, khi chuyển làn đường thì phải quan sát, đảm bảo an toàn mới được chuyển làn nhưng do ý thức chủ quan, coi thường pháp luật nên bị cáo đã điều khiển xe không đúng quy định gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện thoả thuận với đại diện gia đình bị hại bồi thường thiệt hại cho bị hại nhằm khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội khi đã 73 tuổi; bản thân bị cáo là người có công với cách mạng, là thương binh loại A hạng thương tật 2/4, được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba và huy hiệu chiến sĩ Trường Sơn; Gia đình bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo và tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên có khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo bản thân tại địa phương. Vì vậy, chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo là người cao tuổi, khả năng lao động hạn chế nên miễn khầu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo và gia đình bị hại Võ Thị Thanh Hoa đã tự nguyện thoả thuận bồi thường 30.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên. Bị hại Võ Xuân Hiệu bị thương đã có đơn từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Xuân Hoàng cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường liên quan đến xe mô tô bị hư hỏng. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của gia đình bị hại là ông Võ Xuân Hoàng không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, ông Võ Xuân Hoàng là chủ sở hữu xe mô tô BKS 73F1 - 126.92, khi Võ Xuân Hiệu tự ý lấy xe đi và sử dụng xe va chạm với xe mô tô của bị cáo Thảo gây tai nạn, ông Hoàng không biết nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Võ Xuân Hiệu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm hành chính về lỗi “không có giấy phép lái xe” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Công an huyện Bố Trạch đã chuyển tài liệu và giấy tờ của xe mô tô BKS 73F1-126.92 đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Xuân Hiệu là đúng quy định.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã trả lại xe mô tô cùng các loại giấy tờ cho ông Võ Xuân Hoàng, trả lại xe mô tô cho bị cáo Nguyễn Đình Th là phù hợp với quy định của pháp luật, nay không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 009671 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 21/02/2010; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số T890165 do sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 27/01/2005 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô - xe máy số: BB 220 0833139 mang tên Nguyễn Đình Th nên trả lại cho Nguyễn Đình Th là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình Th là người cao tuổi, có công với cách mạng, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Đình Th 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Đình Th cho Uỷ ban nhân dân xã Đại Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
3. Về khấu trừ thu nhập: Miễn khầu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đình Th.
4. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
5. Về xử lý vật chứng: Tuyên trả lại cho Nguyễn Đình Th 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 009671 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 21/02/2010; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số T890165 do sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 27/01/2005 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô - xe máy số: BB 220 0833139.
6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Đình Th.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đồng thời cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Đại Trạch; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Quốc Tân |