- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2023/HS-ST Ngày: 11/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 105/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Văn Đ - Sinh năm 1971 tại tỉnh Hải Dương. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 01, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông: Phùng Văn B; Con bà: Nguyễn Thị T (Đều đã chết). Vợ: Lư Thị H, sinh năm 1976; Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
Anh Vũ Minh S, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Trú tại: xóm TĐ, xã TĐ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút ngày 24/02/2023, tổ công tác của Công an xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 03 đường dân sinh thuộc xóm TĐ của xã thì phát hiện một nam giới đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu đứng lại kiểm tra, người đàn ông chấp hành và tự khai tên là Phùng Văn Đ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại túi áo phía trước bên trái Đ đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (Đ khai nhận số chất bột màu trắng trên là ma túy Heroine của Đ). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Văn Đ và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Phùng Văn Đ có khối lượng 0,184 gam. Niêm phong ký hiệu A gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 04/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng là 0,184 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn Đ khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, Đ đi bộ từ nhà tại tổ 01, phường TĐ, thành phố TN đến khu vực xóm TĐ, xã TĐ, thành phố TN mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Đ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua xong, Đ cất gói Heroine trên vào túi áo phía trước bên trái Đ đang mặc rồi đi bộ về tìm nơi sử dụng nhưng khi Đ vừa đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án là:
- 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu A, bên trong chứa 0,174 gam chất ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
- 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSTPTN, ngày 06/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phùng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói mẫu được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu A, A1.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 20 phút ngày 24/02/2023 tại khu vực đường dân sinh đoạn thuộc xóm TĐ, xã TĐ, thành phố TN, Phùng Văn Đ có hành vi tàng trữ 0,184 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phùng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c. Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản gì, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
. Vật chứng vụ án:
Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong kí hiệu A, A1 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Phùng Văn Đ khai đã mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Văn Đ 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A, bên trong chứa 0,174gam chất ma túy, loại Heroin và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
+ 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/4/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Phùng Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; Sở tư pháp; - VKSND tỉnh TN; VKSND TPTN; - Công an TPTN; - Trại tạm giam CA tỉnh TN; - Chi cục THADS TPTN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thúy Quỳnh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quỳnh |