vanban.org

Bản án 122/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V 8 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 31/3/2021.

Phạt tiền bổ sung đối với Nguyễn Thị Ngọc V 10.000.000 đồng Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 31/3/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thi Ngoc V, Le Van L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V 8 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 31/3/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 122/2022/HSST
Ngày: 12/4/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn

Bà Nguyễn Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát V.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 2 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2022/QĐXXST-HS ngày 25/3/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2022/QĐXXST-HS ngày 5/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Ngọc V, sinh năm 1978 tại Khánh Hòa; Giới tính: Nữ

Nơi cư trú: Thôn N, xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: không

Trình độ học vấn: 06/12

Nghề nghiệp: Không

Con ông Nguyễn Ngọc Sơn và bà Nguyễn Thị Sa

Tiền án, tiền sự: không:

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 31/3/2021 đến nay. Có mặt

2. Lê Văn L, sinh năm 1966 tại Khánh Hòa Giới tính: Nam

Nơi cư trú: 146/12 đường P, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: không

Trình độ học vấn: 02/12

Nghề nghiệp: Không

Con ông Lê Hớn và bà Phạm Thị Nuôi

* Tiền án: 04

- Bản án hình sự sơ thẩm số 54/HSST ngày 08/5/1986 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 03 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 109/HSST ngày 31/12/1986 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí.

- Bản án hình sự phúc thẩm số 434 ngày 25/9/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2001, chưa đóng án phí.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 09/HSST ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 08 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2018, đã đóng án phí ngày 25/9/2013.

* Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2008/HSST ngày 13/3/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2009, đã đóng án phí.

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 31/3/2021 đến nay. Có mặt

* Người có quyền L nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Tấn Đ, sinh năm 1986 Trú tại: 50 V, phường Vạn Thạnh, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

2. Ông Châu Quốc P, sinh năm 1983 Trú tại: Thôn X, xã Phú Xuân, Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc. Vắng mặt

* Người làm chứng

- Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1996 HKTT: Số 91/8 L, phường 8, thành phố Tuy Hòa, Phú Yên Trú tại: Tổ 1 P, xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

* Người chứng kiến:

1. Hồ Thị Thanh T, sinh năm 1991 HKTT: TDP 12 phường N, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa Trú tại: Tổ 1 P, xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

2. Ông Lê H, sinh năm 1959 Trú tại: Thôn Đ, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 30/3/2021, Châu Quốc Phú rủ Phạm Tấn Đức đi mua ma túy để sử dụng thì Đức đồng ý nên Châu Quốc Phú điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 37K1 - 593.36 đến nhà Đức tại 50 Vạn Hòa, phường Vạn Thạnh, thành phố Nha Trang đón Đức. Sau đó, Đức và Phú hẹn Nguyễn Thị Ngọc V đến nhà trọ của Nguyễn Thị Ngọc V và Lê Văn L tại thôn Đồng Nhơn, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang để mua ma túy. Lúc này, V ngủ ở trong nhà, còn L ra bán ma túy cho Đức và Phú. Do không có tiền nên Đức đưa 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Châu Quốc Phú để thế chấp để mua ma túy với giá thỏa thuận là 300.000 đồng. Khi nào có tiền mang đến chuộc lại giấy tờ. Sau đó, L vào trong nhà lấy từ trong ví 01 đoạn ống hút nước màu trắng trong dài khoảng 2 cm được hàn kín, bên trong có chứa ma túy rồi đưa cho Đức. Sau khi bán ma túy, L đi ngủ, còn Đức và Phú ra về.

Đến khoảng 23 giờ 50 phút ngày 30/3/2021, trong quá trình tuần tra tại khu vực thôn Đồng Nhơn, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, Tổ công tác Công an thành phố Nha Trang phát hiện Phạm Tấn Đức và Châu Quốc Phú có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, Phạm Tấn Đức tự lấy trong người và giao nộp 01 đoạn ống hút nước màu trắng trong dài khoảng 2 cm được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và khai nhận đây là ma túy đá mà Đức và Phú mua của Nguyễn Thị Ngọc V và Lê Văn L với giá 300.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong số vật chứng (ký hiệu A) và yêu cầu cả hai về trụ sở công an để làm việc.

Quá trình truy xét, đến 08 giờ 40 phút ngày 31/3/2021, Cơ quan Công an

đã xác định được Nguyễn Thị Ngọc V, Lê Văn L và yêu cầu về trụ sở cơ quan Công an làm việc.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Thị Ngọc V tại thôn Đồng Nhơn, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, Cơ quan Công an thu giữ thêm: 01 ví da màu đen bên trong đựng 01 bịch ny long màu trắng có khóa hằn miệng, có đựng 02 đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu có kích thước 1x2,25 cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu có kích thước 1x4,25 cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong, ký hiệu A1); 01 đoạn ống hút dài khoảng 10,5 cm, màu trắng, 01 đầu cắt vát, 01 đầu hàn kín; 01 Chứng minh nhân dân, 01 bằng lái xe đứng tên Châu Quốc Phú; số tiền 600.000 đồng; 01 bình thủy tinh.

Bản kết luận giám định số 82/GĐ-GT/2021 ngày 07/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:

- Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0528 gam, là (loại) Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9936 gam, là (loại) Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSNT ngày 16/2/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015; Bị cáo Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo V mức án từ 7 năm đến 8 năm tù;

- Áp dụng điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Văn L; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo L mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù

- Phạt tiền bổ sung đối với hai bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền L nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát V đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Văn L khai nhận, tối 30/3/2021, khi L đi làm về thì thấy Châu Quốc Phú và Phạm Tấn Đức đến nhà trọ của V và L tại thôn Đồng Nhơn, xã Vĩnh Trung hỏi mua ma túy. Lúc này V ngủ ở trong nhà nên L trao đổi với Đức và Phú. Do Đức và Phú không có tiền nên các bên thỏa thuận Đức và Phú cầm cố 01 Chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Châu Quốc Phú để mua số lương ma túy tương đương với mức giá thỏa thuận là 300.000 đồng. Khi nào Đức và Phú có tiền thì đến chuộc về. Sau đó, L vào trong nhà lấy 01 đoạn ống hút nước màu trắng dài khoảng 2cm được hàn kín, bên trong chứa ma túy rồi đưa cho Đức. Xong xuôi, Đức và Phú ra về còn L đi ngủ.

Lê Văn L khẳng định, Nguyễn Thị Ngọc V ngủ nên không biết việc L bán ma túy cho Đức và Phú

Lời khai của bị cáo L phù hợp với nội dung Biên bản sự việc, với bản Kết luận giám định, Biên bản nhận dạng, với lời khai của người có quyền L nghĩa vụ liên quan đến vụ án Châu Quốc Phú và Phạm Tấn Đức và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc V: Bị cáo khai không biết Đức và Phú đến mua ma túy. Không biết L bán ma túy cho hai người này. Bị cáo cũng chỉ thừa nhận bán ma túy nhiều lần (3 lần) cho Phạm Tấn Đức; không thừa nhận đã bán ma túy cho Trần Thị Thanh Thúy mà cho rằng Thúy chỉ đến nhà chơi nhiều lần, không phải đến mua ma túy. Tuy nhiên, người làm chứng Phạm Thị Thanh Thúy khai nhận, đã mua ma túy của Nguyễn Thị Ngọc V nhiều lần. Quá trinh điều tra, Thúy cũng đã nhận dạng và xác định V chính là người bán ma túy nhiều lần cho Thúy để Thúy sử dụng cho bản thân. Do đó, Hội đỗng ét xử bác bỏ lời khai nại này của bị cáo V.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để khẳng định, tối ngày 30/3/2021, Lê Văn L có hành vi bán ma túy cho Châu Quốc Phú và Phạm Tấn Đức. Ngoài ra, trước đó, Nguyễn Thị Ngọc V còn bán ma túy nhiều lần cho Phạm Tấn Đức, Phạm Thị Thanh Thúy.

Hành vi của Nguyễn Thị Ngọc V và Lê Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Nguyễn Thị Ngọc V bán ma túy nhiều lần cho Phạm Tấn Đức, Phạm Thị Thanh Thúy; Lê Văn L là đối tượng “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015; Bị cáo Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Nhưng do tối ngày 30/3/2021, Lê Văn L có hành vi bán ma túy vào cùng một thời điểm cho hai người mua là Châu Quốc Phú và Phạm Tấn Đức, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội “Đối với hai người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự về “Giới hạn của việc xét xử”, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử và buộc bi cáo Lê Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, làm gia tăng người nghiện ma túy, tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm khắc đối và phạt tiền bổ sung với các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo V và L sống chung như vợ chồng, cùng bàn bạc mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm. Bị cáo V là người đi mua ma túy về, phân lẻ, trực tiếp bán nhiều lần; bị cáo L giúp sức tích cực khi giúp V bán ma túy. Do đó, tính chất mức độ và hành vi phạm tội của hai bị cáo là như nhau. Tuy nhiên, bị cáo L có nhân thân xấu hơn bị cáo V nên Hội đồng xét xử phạt bị cáo L mức án cáo hơn bị cáo V.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử cho 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị V là người chưa có tiền án tiền sự nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

. Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0528 gam ma túy Methamphetamine của Phạm Tấn Đức và Châu Quốc Phú: Phạm Tấn Đức và Châu Quốc Phú tàng trữ khối lượng ma túy dưới mức định lượng, chưa ai bị xét xử hay xử phạt hành chính về hành vi này nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đức và Phú về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

Về những người đã bán ma túy cho Nguyễn Thị Ngọc V: Nguyễn Thị Ngọc V khai nhận V mua ma túy của các đối tượng không rõ lai lịch trên khu vực Lầu Bảy, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang để phân nhỏ để bán cho các con nghiện. Hiện chưa xác định được những người bán ma túy cho V nên Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Nha Trang tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có đủ cơ sở thì xử lý trong vụ án hình sự khác.

. Về vật chứng vụ án:

* Các vật chứng gồm: 01 ví da màu đen (không rõ nhãn hiệu); 01 phong bì được niêm phong. Một mặt ghi chữ “Hoàn lại mẫu ký hiệu A1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,8453 gam”, một mặt có chữ ký của giám định V và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa;

Là vật chứa vật cấm lưu hành và không có trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng dài khảng 10,5 cm, một

đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 01 bình thủy tinh tròn, một đầu gắn ống thủy tinh cong, một đầu có ụ tròn;

Là công cụ phương tiện phạm tội và không có trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Oppo sử dụng thuê bao 0931.180.792; 01 điện thoại di động hiệu Nokia sử dụng thuê bao 0705.703.578;

Là công cụ phương tiện phạm tội nên tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Các vật chứng: 01 chứng minh nhân dân số 240680153 mang tên Châu Quốc Phú; 01 giấy phép lái xe số 560198008540 mang tên Châu Quốc Phú; là giấy tờ tùy thân của anh Châu Quốc Phú nên trả lại cho anh Phú

Về số tiền thu giữ 600.000 đồng: Tại phiên tòa, các bị cáo khai đây là số tiền bị cáo L đưa cho bị cáo V để trả tiền thuê nhà, không phải là tiền mua bán ma túy mà có được nên Hội đồng xét xử tuyên tạm giữ đế đảm bảo cho việc thi hành án

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V 8 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 31/3/2021.

Phạt tiền bổ sung đối với Nguyễn Thị Ngọc V 10.000.000 đồng

- Căn cứ điểm c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 31/3/2021

Phạt tiền bổ sung đối với Lê Văn L 10.000.000 đồng

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo sử dụng thuê bao 0931.180.792; 01 điện thoại di động hiệu Nokia sử dụng thuê bao 0705.703.578;

* Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen (không rõ nhãn hiệu); 01 phong bì được niêm phong. Một mặt ghi chữ “Hoàn lại mẫu ký hiệu A1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,8453 gam”, một mặt có chữ ký của giám định V và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa; 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng dài khảng 10,5 cm, một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 01 bình thủy tinh tròn, một đầu gắn ống thủy tinh cong, một đầu có ụ tròn;

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng; theo Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 1373216 ngày 15/3/2022 tại Kho bạc nhà nước Khánh Hòa.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Nguyễn Thị Ngọc V, Lê Văn L mỗi người phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền L nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. * Nơi nhận:

Cỡ chữ