- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 07/12/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2022/HS-PT Ngày 07/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng Huy
Các Thẩm phán:
Ông Trần Hữu Hiệu
Ông Phạm Anh Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 67/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu 6, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Trương Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ sinh nhất năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ 06/01/2022 đến ngày 12/01/2022, sau đó được chuyển áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại ngoại. (Có mặt)
Ngoài ra còn 03 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 06/01/2022, Nguyễn Văn H, Phạm Văn Đ, Vũ Văn T lần lượt đến nhà Nguyễn Văn P ở khu 6, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương ngồi chơi uống nước ở gian nhà dưới của nhà P. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, P, H, Đ, T cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh sâm được thua bằng tiền, P lấy bộ tú lơ khơ có 52 quân bài mua từ trước cùng với H, Đ, T ngồi xuống chiếu xốp đã được trải sẵn ở nền nhà để đánh bạc. Khi đánh bạc, P sử dụng 1.500.000 đồng đánh bạc, T sử dụng 5.000.000 đồng, H có 5.000.000 đồng (H khai chỉ sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc), Đ sử dụng 1.400.000 đồng. Các đối tượng quy định, mỗi ván mỗi người được chia 10 quân bài, số quân bài còn lại úp xuống chiếu. Người chia bài hỏi xem có ai xin sâm không, nếu không có người nào xin sâm thì người chia bài được đánh trước, sau đó đánh lần lượt từ phải qua trái, từ quân bài nhỏ đến quân bài lớn, không phân biệt rô, cơ, bích, tép (quân bài 2 là lớn nhất, quân bài A lớn thứ hai). Nếu người nào đánh hết quân bài ở trên tay trước thì người đó thắng, ba người còn lại đếm quân bài trên tay tính tiền trả cho người thắng tương ứng 10.000 đồng/quân bài. Trong ván đánh nếu có người xin sâm ngay từ đầu mà thắng thì ba người còn lại, mỗi người phải trả 300.000 đồng cho người xin sâm; nếu người xin sâm thua thì phải trả 1.200.000 đồng cho người thắng ván đó. Nếu ai không đánh được quân bài nào (tức bài bị cháy) thì phải trả cho người thắng ván đó 150.000 đồng. Người thắng ván trước được chia bài và đánh ván tiếp theo nếu không có người xin sâm. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Đ1 – sinh năm 1997, trú tại: P - K – Hải Dương đến xem các đối tượng trên đánh bạc. Sau đó, Đ1 và Đ rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh cạnh với nhau. Đ1 sử dụng 1.200.000 đồng đánh bạc với Đ. Đ1 và Đ thống nhất sau khi Đ, P, H, T đánh xong mỗi ván thì Đ1 nhìn các quân bài của P vừa đánh xong để ở dưới chiếu để so sánh với các quân bài của Đ vừa đánh xong để ở dưới chiếu. Nếu bài của Đ có các quân bài Q, K, A mà bài của P không có thì Đ1 phải trả cho Đ số tiền là 100.000 đồng và ngược lại; nếu bài của Đ và P đều có quân bài Q, K, A thì so sánh chất quân bài để tính thắng thua theo thứ tự rô, cơ, tép, bích; nếu bài của Đ và P không có quân bài Q, K, A thì Đ1 và Đ hòa. Cứ như vậy, các đối tượng trên đánh bạc đến 16 giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã K phối hợp với công an phường P phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 16.140.000 đồng (số tiền này được xác định là số tiền đánh bạc của cả 05 đối tượng trên), 01 bộ tú lơ khơ có 52 quân bài, 01 chiếu xốp kích thước (1,8x2) m, kiểm tra trên người Nguyễn Văn H thu được số tiền 3.000.000 đồng. Qúa trình điều tra, các bị can và Đ1 khai khi tham gia đánh bạc có ván thắng, có ván thua nhưng cụ thể thắng thua được bao nhiêu không xác định được. Khi bị lực lượng công an bắt quả tang thì toàn bộ số tiền vẫn ở trên chiếu bạc nhưng do đã lẫn lộn với nhau và không xác định được mỗi người có bao nhiêu tiền.
Tại bản án sơ thẩm số 67/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã K tuyên bố Vũ Văn T phạm tội “Đánh bạc”; căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS), xử phạt T 11 tháng tù. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với 03 bị cáo khác; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30 tháng 8 năm 2022, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo T thay đổi kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, xác định cấp sơ thẩm đã xét xử Vũ Văn T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt T 11 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo T xuất trình biên lai nộp trước án phí và tiền phạt bổ sung theo bản án sơ thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 BLTTHS nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng những chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 16 giờ 10 phút ngày 06/01/2022, tại gia đình Nguyễn Văn P, địa chỉ: Khu 6, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn P và Phạm Văn Đ, Vũ Văn T, Nguyễn Văn H đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh sâm được thua bằng tiền. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày các đối tượng bị Tổ công tác Công an thị xã K phối hợp với Công an phường P phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 16.140.000 đồng. Do đó Tòa án nhân dân thị xã K xét xử T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
Về hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó các bị cáo đều là người thực hành. Cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vị trí, vai trò đồng phạm, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt T 11 tháng tù là đã phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp trước án phí sơ thẩm và tiền phạt bổ sung, đây là tình tiết giảm nhẹ mới thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật. HĐXX thấy rằng bị cáo T mặc dù nhân thân có tiền án nhưng đã được xóa án tích; bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, vừa có tác dụng giáo dục đối với bị cáo vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2012/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; chấp nhận kháng cáo của Vũ Văn T; sửa bản án sơ thẩm số 67/2022/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương đối với Vũ Văn T.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 07/12/2022.
Giao Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vũ Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/12/2022.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV-CA tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND thị xã K (2 bản); - VKSND thị xã K; - CQCSĐT, CQTHAHS – CA thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - UBND phường P, thị xã K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Bùi Đăng Huy |