- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Cẩm T đối với ông Trần Văn Thành.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số:122/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/9/2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà La Thị Thu Nga.
2. Bà Phùng Thị Khánh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2022/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 82/2022/QĐST – HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Cẩm T, sinh năm: 1981 (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Địa chỉ: Ấp Ông T, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Trần Văn Thành, sinh năm: 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Ông T, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T trình bày:
Bà Nguyễn Cẩm T xây dựng gia đình với vào năm 1999 nhưng đến năm 2004 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung giữa bà T và ông T hạnh phúc, đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, kinh tế gia đình khó khăn nên thường xuyên cãi vả, ông T đi nhậu về say sỉn chửi bới đánh đập bà T, bà T và ông T đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình không có gì thay đổi. Bà T và ông T ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay, không còn quan hệ qua lại gì về mặt tình cảm cũng như kinh tế.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà T và ông T có 02 con chung tên Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/11/2000 và Trần Ngọc Lan H, sinh ngày 20/3/2018. Con chung tên Ngân đã trưởng thành nên bà T không có yêu cầu gì, bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hương hiện đang sống cùng bà T, bà T tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã triệu tập ông Trần Văn T đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên tòa ông T đều vắng mặt không có lý do.
Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật. Tuy nhiên vụ án còn để kéo dài quá thời hạn xét xử mà không có quyết định gia hạn là còn thiếu sót, đề nghị Tòa án rút kinh nghiệm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Cẩm T yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Trần Văn Tđây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Trần Văn Tcó nơi cư trú tại huyện XM theo điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong quá trình tham gia tố tụng ông Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vắng mặt không có lý do, bà Nguyễn Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy việc xét xử vắng mặt bà T, ông T là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Cẩm T và ông Trần Văn Txây dựng gia đình vào năm 1999 nhưng đến năm 2004 mới đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 728, 729, đăng ký ngày 17/6/2004 tại UBND xã PT, huyện XM), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà T cho rằng vào cuối năm 2021, bà T và ông T phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xảy ra cãi vả, ông T đi nhậu về say sỉn chửi bới, đánh đập bà T. Từ đầu năm 2022 đến nay bà T và ông T ly thân, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T.
Kết quả xác minh tại địa phương: Về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Cẩm T và ông Trần Văn Tcó xảy ra mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không biết, do không có sự trình báo cũng không hòa giải ở cơ sở. Hiện nay bà T và ông T không còn chung sống với nhau, bà T sống với gia đình bà T, còn ông T sống với gia đình của ông T đều ở ấp Ông T, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nay bà T có yêu cầu ly hôn, địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của bà T cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà T và ông T phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con cái nhưng từ đầu năm 2022 đến nay bà T và ông T ly thân, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình – 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Sau khi bà T gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông T vắng mặt không lý do, bà T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông T thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T.
Về con chung: Bà Nguyễn Cẩm T và ông Trần Văn Tcó 02 con chung tên Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/11/2000 và Trần Ngọc Lan H, sinh ngày 20/3/2018. Con chung tên Ngân đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét yêu cầu của bà T về việc nuôi dưỡng con chung tên Hương cho thấy: Từ khi bà T nộp đơn, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án cho đến nay, ông T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc bà T có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hương. Hiện nay cháu Hương đang sống cùng bà T, được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng; Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt, cũng như để ổn định, không gây xáo trộn cuộc sống của cháu nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Hương cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Cẩm T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Cẩm T đối với ông Trần Văn Thành.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Cẩm T được ly hôn với ông Trần Văn Thành.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Cẩm T và ông Trần Văn Tcó 02 con chung tên Trần Thị Thanh N, sinh ngày 20/11/2000 và Trần Ngọc Lan H, sinh ngày 20/3/2018. Con chung tên Ngân đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giao con chung tên Hương cho bà Nguyễn Cẩm T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Cẩm T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Cẩm T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010930 ngày 31/3/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND huyện XM; - Chi cục THADS huyện XM; - UBND xã PT; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉTXỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thảo |