- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Công ty T - Nguyễn Thị Đ"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218, khoản 2 Điều 219, khoản 2 Điều 244 của Bộ lu t Tố tụng dân sự:
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2022/DS-PT Ngày: 14/7/2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn T và bà L u Th thu H ng
- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Th y H ng - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Tr n Th Xuân Linh Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử ph c thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 101/2022/TLPT- DS về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2022/DS - ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông B k, tỉnh Đắk Lắk b kháng cáo.
Theo quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐPT- DS ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa các đ ơng sự:
- Nguyên đơn: Công ty T;
Đại diện theo pháp lu t: Ông Lê Vạn D – iám đốc Công ty;
Đại chỉ: T dân phố T, ph ng , th x B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguy n Th Đ;
Đ a chỉ: Thôn 01, x , huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ng Cao H ng C; Đ a chỉ: Thôn 01, x , huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Người làm chứng:
+ ng Phạm Đức H;
Đ a chỉ: TDP 12, Ph ng , th x B, tỉnh Đăk Lắk, vắng mặt
+ ng Lê Văn T1, bà Nguy n T ;
Đ a chỉ: TDP 5, th tr n K, huyện R, tỉnh Đăk Lắk.
+ ng Nguy n Văn D, bà Nguy n Th Kiều T;
Đ a chỉ: Số 44 H, ph ng , th x B, tỉnh Đắk Lắk.
Những ng i làm chứng đều vắng mặt.
Do có kháng cáo của b đơn bà Nguy n Th Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá tr nh tham gia tố tụng nguyên đơn ông Lê Vạn
trình bày:
Vào ngày 02/3/2020, bà Nguy n Th Đ có ký hợp đồng d ch vụ với Công ty T bán một căn nhà ở hẻm đ ng B, t dân phố 12, ph ng , th x B. Sau khi gặp gỡ trao đ i, hai bên thống nh t làm hợp đồng ký gửi độc quyền số 232 ngày 02/3/2020. Theo hợp đồng d ch vụ thì bên B (bên ký gửi) phải thanh toán phí môi giới cho bên (bên công ty T) là 80.000.000 đồng nếu bên B bán đ ợc nhà trong 04 tháng.
Vào ngày 29/4/2020 bên B đ làm hợp đồng mua bán với khách hàng mà theo hợp đồng thì b t kỳ ai mua căn nhà trong hợp đồng và trong th i gian ký gửi đều là khách của bên nh đ thỏa thu n. Mặc d bên (công ty T) đ nhiều l n liên hệ để đ ợc chi trả phí môi giới nh ng không đ ợc bên B chi trả.
Vì v y, Công ty T làm đơn khởi kiện, yêu c u Tòa án nhân dân huyện Krông Búk buộc gia đình bà Nguy n Th Đ và ông Cao H ng C phải thanh toán số tiền 80.000.000 đồng (tám m ơi triệu đồng) là tiền phí môi giới theo hợp đồng đ ký.
- Quá tr nh tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị Đ tr nh bày:
Vợ chồng bà Đ (Cao H ng C và Nguy n Th Đ) không đồng ý với yêu c u khởi kiện của Công ty T, không đồng ý trả cho Công ty số tiền 80.000.000 đồng, vì những lý do sau:
Bà Đ không tự nguyện ký kết hợp đồng với phía Công ty, trong th i gian gia đình bà Đ bán nhà thì phía Công ty (anh Phạm Đức H là nhân viên của công ty) có đến nhà m i chào và hẹn bà Đ ra quán cà phê để thỏa thu n hợp đồng, th i gian thỏa thu n hợp đồng khoảng 30 ph t đến 45 ph t, nội dung của hợp đồng bà Đ không nắm rõ mà chỉ nghe anh D là giám đốc công ty và anh H t v n nên bà Đ hoàn toàn không biết việc có chi phí môi giới bán nhà là 80.000.000 đồng. Sau đó, khi vợ chồng bà Đ bán nhà hoàn toàn là khách hàng của vợ chồng bà Đ, Công ty không hề có liên quan đến việc vợ chồng bà Đ bán nhà. Khi ký hợp đồng d ch vụ với công ty chỉ có mình bà Đ ký, chồng bà Đ là ông Cao H ng C không ký và không ủy quyền cho bà Đ ký hợp đồng d ch vụ với Công ty.
Vì những lý do trên bà Đ không đồng ý với yêu c u khởi kiện của Công ty T, đề ngh Tòa án xem xét giải quyết theo quy đ nh của pháp lu t.
- Quá tr nh tham gia tố tụng ông Cao Hùng C tr nh bày:
Ông Cao Hùng C không đồng ý với yêu c u khởi kiện của Công ty T, không đồng ý trả cho Công ty số tiền 80.000.000 đồng vì:
ng C không liên quan gì đến Công ty T và không biết gì về nội dung ký kết hợp đồng mua bán giữa vợ ông là bà Nguy n Th Đ với Công ty T. Ông C khẳng đ nh nhà đ t chính chủ là ông C nên ông có quyền quyết đ nh. ng C không bán nhà cho khách hàng của Công ty T và công ty cũng không mua nhà của ông C. ng C không cho phép b t cứ ai ký kết hợp đồng hoặc mua bán tài sản của ông C khi ch a đ ợc sự đồng ý của ông. Do đó, ông đề ngh Tòa án xem xét giải quyết không ch p nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
- Quá tr nh tham gia tố tụng, anh Phạm Đức H khai:
nh H làm công việc d ch vụ. Hiện tại, anh H không còn làm việc cho Công ty T. nh H có quen biết ông Lê Vạn D, ông Cao H ng C và bà Nguy n Th Đ và không có quan hệ họ hàng gì với 3 ng i này. nh H có chứng kiến việc Công ty T Hợp đồng ký gửi độc quyền với bà Nguy n Th Đ vào ngày 02/3/2020. Ng i trực tiếp ký hợp đồng là ông Lê Vạn D với bà Nguy n Th Đ. Về nội dung chi tiết trong hợp đồng thì anh H không biết vì anh H không phải là ng i l p hợp đồng. nh H đ ợc biết sau khi ký hợp đồng, phía công ty đ rao bán nhà của ông C, bà Đ b ng nhiều hình thức nh mạng x hội, t rơi, quảng cáo b ng miệng. Khi ông Cao H ng C và bà Nguy n Th Đ bán nhà đ t thì phía công ty không biết, chỉ nắm đ ợc thông tin nhà ông C, bà Đ đ bán sau khi ký hợp đồng khoảng 45 ngày. Đối với yêu c u khỏi kiện của Công ty T thì anh H không có ý kiến gì.
- Tại biên bản xác minh và biên bản làm việc với bà Chu Th T2 (bà T2 là mẹ đẻ của ch Nguy n Th Kiều T) thể hiện: Ch T có đăng ký hộ khẩu th ng tr tại thôn N, x C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay ch T đang sinh sống và làm việc tại thành phố F, đ a chỉ cụ thể của ch T thì đ a ph ơng và bà T không nắm rõ. Về việc nh n chuyển nh ợng quyền sử dụng đ t của ch T với vợ chồng ông Cao H ng C, bà Nguy n Th Đ thì bà T2 đ ợc biết vào khoảng thánhg 4/2020 ch T có nh n chuyển nh ợng đ t của ông C, bà Đ. Ch T nh n chuyển nh ợng thay cho ông Lê Văn T1, bà Nguy n Tú U (là bà con thông gia với gia đình bà T2). Việc ch T nh n chuyển nh ợng đ t với ông C, bà Đ có thông qua Công ty T hay không thì bà không biết. Hiện nay, lô đ t đó đ đ ợc ch T sang tên quyền sử dụng đ t cho ông T1, bà U.
- Tại biên bản ghi l i khai của ông Lê Văn T1, bà Nguy n T khai: ng T1, bà không có mối quan hệ gì với ch T, ông C, bà Đ, ông D – iám đốc Công ty T. Vào ngày 20/5/2020, ông T1, bà có l p hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đ t với bà Nguy n Th Kiều T đối với quyền sử dụng đ t theo i y chứng nh n quyền sử dụng đ t theo i y CNQSDĐ số B 090030, thửa đ t số 91, t bản đồ số 21, diện tích 135,9m2, đ a chỉ thửa đ t tại ph ng , th x B, tỉnh Đắk Lắk. Việc bà T2 là mẹ đẻ của ch T cho biết ch T đứng ra ký hợp đồng chuyển nh ợng với ông C, bà Đ thay cho ông T1, bà U là không đ ng. Ông T1, bà không biết giá tr chuyển nh ợng quyền sử dụng đ t giữa ch T với ông C ng, bà Đ là bao nhiêu tiền, không biết ch T ký hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đ t với ông C, bà Đ có thông qua môi giới của Công ty T hay không và cũng không biết việc bà Đ ký hợp đồng ủy quyền độc quyền “về việc ký gửi nhà đ t” cho Công ty T đ ợc quyền thay mặt ông C, bà Đbán diện tích đ t nói trên. ng T1, bà không có ý kiến gì về việc khởi kiện của Công ty T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/2022/DSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ lu t Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ lu t dân sự 2015. Khoản 2 Điều 26 Ngh quyết số 326/ BTVQH 12 ngày 30/12/2016 của ỷ ban Th ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Ch p nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Công ty T, buộc b đơn bà Nguy n Th Đào phải trả cho Công ty T t ng số tiền 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp lu t.
Ngày 14/4/2022, b đơn bà Nguy n Th Đ kháng cáo đề ngh Tòa án c p ph c thẩm không ch p nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
Tại c p ph c thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và b đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các bên không thỏa thu n đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa ph c thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Do đơn kháng cáo của b đơn bà Nguy n Th Đ không có căn cứ pháp lý nên đề ngh Hội đồng xét xử ph c thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự, không ch p nh n yêu c u kháng cáo của b đơn bà Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2022/DSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông B k, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của b đơn bà Nguy n Th Đ là hợp lệ nên đ ợc xem xét theo thủ tục ph c thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu c u khởi kiện của Công ty T và đơn kháng cáo của b đơn bà Nguy n Th Đ, th y r ng:
Hợp đồng ký gửi độc quyền (số 232/2020/HĐK – V/v ký gửi nhà đ t) ngày 02/3/2020 giữa Công ty T (Bên ) và vợ chồng ông Cao H ng C, bà Nguy n Th Đ (Bên B), khi ký hợp đồng ông C không có mặt và không ký hợp đồng. Tại Điều 1 của hợp đồng về thông tin b t động sản ký gửi, thể hiện: Bên B (tức bà Nguy n Th Đ) đồng ý giao độc quyền Bên (tức Công ty T) bán b t động sản theo thông tin là quyền sử dụng đ t số B 090030, thửa đ t số 91, t bản đồ số 21, đ a chỉ ph ng , th x B, tỉnh Đắk lắk, diện tích c n bán 135,9m2, loại đ t 40m2 th c , tài sản gắn liền c n bán là 01 nhà l u, 1 t ng xây năm 2018; Tại Điều 3 của hợp đồng quy đ nh về Phí môi giới và ph ơng thức thanh toán có ghi: “Bên B đồng ý thanh toán cho bên phí môi giới độc quyền trên giá bán ký gửi với số tiền là 80.000.000 đồng, phí môi giới đ ợc Bên B thanh toán cho Bên một l n b ng tiền mặt khi nh n tiền cọc từ khách hàng; đồng th i tại mục 5.2 Điều 5 của hợp đồng ký gửi độc quyền đ ợc ký giữa các bên quy đ nh về quyền và nghĩa vụ của Bên B ghi rõ: “Đồng ý r ng b t kỳ ai giao d ch trong th i hạn ký gửi đều là khách hàng của Bên ”. Vào ngày 29/4/2020, ông Cao H ng C, bà Nguy n Th Đ đ chuyển nh ợng quyền sử dụng đ t số B 090030, thửa đ t số 91, t bản đồ số 21, đ a chỉ ph ng , th xã B, tỉnh Đắk lắk, diện tích 135,9m2 cho bà Nguy n Th Kiều T là trong th i hạn thực hiện môi giới của hợp đồng quy đ nh tại Điều 4 của hợp đồng là từ ngày 02/3/2020 đến ngày 02/6/2020. Nh v y, theo quy đ nh tại mục 5.2 Điều 5 của hợp đồng, ngay cả khi bà T không phải là khách hàng của công ty T nh ng khi giao d ch chuyển nh ợng đ t giữa ông C, bà Đ với bà T là n m trong th i hạn ký gửi nên là khách hàng của Bên là công ty T.
Sau khi ký hợp đồng ký gửi, công ty T đ thực hiện nghĩa vụ của mình là quảng cáo rao bán quyền sử dụng đ t nêu trên trong trang FaceBook “Nhà Đ t Buôn Hồ” của công ty T vào ngày 03/3/2020, có đóng phí quảng cáo. Do đó, việc Bên B là bà Đ sau khi bán đ ợc đ t cho bà T mà không thanh toán cho bên là công ty T phí môi giới độc quyền trên giá bán ký gửi với số tiền 80.000.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng ký gửi độc quyền (số 232/2020/HĐK – V/v ký gửi nhà đ t). Nh v y, Tòa án c p sơ thẩm ch p nh n đơn khởi kiện của công ty T để buộc bà Đ thanh toán cho công ty 80.000.000 đồng là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bà Nguy n Th Đ không đồng ý với yêu c u khởi kiện của Công ty T, vì bà cho r ng khi ký hợp đồng, bà Đ không nắm rõ nội dung của hợp đồng mà chỉ nghe ông Lê Vạn D là giám đốc công ty và ông Phạm Đức H t v n nên bà Đ hoàn toàn không biết việc có chi phí môi giới bán nhà là 80.000.000 đồng là không có cơ sở, bởi tr ớc khi ký tên trong hợp đồng bà Đ còn ghi thêm nội dung “Tôi đã đọc và hiểu và chịu mọi trách nhiệm thay chồng” và việc ký kết hợp đồng ký gửi độc quyền, bà Đ không b ép buộc, trên cơ sở tự nguyện. Do đó, không có căn cứ ch p nh n ý kiến trình bày cũng nh đơn kháng cáo của bà Nguy n Th Đ, mà c n giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2022/DSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông B k, tỉnh Đắk Lắk là ph hợp với quy đ nh của pháp lu t.
Về thiếu sót của Tòa án c p sơ thẩm: Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đ r t một ph n yêu c u khởi kiện đối với ph n nghĩa vụ của ông Cao Hùng C và Tòa án c p sơ thẩm đ nh n đ nh trong bản án. Tuy nhiên, tại ph n quyết đ nh của bản án không đề c p đến và xét th y thiếu sót này không ảnh h ởng đến quyền lợi của các đ ơng sự nên c n b sung và Tòa án c p sơ thẩm c n r t kinh nghiệm.
Về án phí:
- n phí dân sự sơ thẩm: Do yêu c u của nguyên đơn đ ợc ch p nh n nên b đơn vợ chồng ông C, bà Đ phải ch u án phí dân sự sơ thẩm.
- n phí dân sự ph c thẩm: Yêu c u kháng cáo của bà Đ không đ ợc ch p nh n nên bà Đ phải ch u án phí dân sự ph c thẩm.
Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218, khoản 2 Điều 219, khoản 2 Điều 244 của Bộ lu t Tố tụng dân sự:
Không ch p nh n kháng cáo của b đơn bà Nguy n Th Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 16/2022/DSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông B k, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên xử:
[2] Ch p nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
Buộc b đơn bà Nguy n Th Đ phải trả cho Công ty T (ng i đại diện theo pháp lu t là ông Lê Vạn D, iám đốc Công ty T) với số tiền là 80.000.000 đồng (tám m ơi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của ng i đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i su t quy đ nh tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ lu t dân sự, t ơng ứng với th i gian ch a thi hành án.
[3] Đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn đối với ph n nghĩa vụ của ông Cao H ng C do nguyên đơn r t yêu c u.
[4]Về án phí:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- B đơn bà Nguy n Th Đ phải ch u 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho Công ty T số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp theo biên lai số AA/2019/0009545 ngày 17/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự th x B, tỉnh Đắk Lắk.
[4.2] Về án phí dân sự ph c thẩm: B đơn bà Nguy n Th Đ phải ch u 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự ph c thẩm. Đ ợc kh u trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà Nguy n Th Đ đ nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0008584 ngày 13/4/2022 tại Chi cục thi hành án huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
[5] Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo kháng ngh .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - T ND Tối Cao; - T ND c p cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông B k; - Chi cục TH DS huyện K; - Các đ ơng sự; - L u: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Y Phi Kbuôr |