vanban.org

Bản án 122/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn M nh T ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn M nh T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thờ i hạn tù tı́nh từ ngày 03/8/2021. * Về hình ph t bổ sung: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 đi n tho i di động nhãn hi u IPHONE vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei: 35862809342xxxx và số tiền 1.000.000đ (một tri u đồng) của bị cáo T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn M nh T ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2021/HS-ST
Ngày: 16/11/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.

Các Hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Hương

Ông Nguyễn Huy Trụ

Thư ký Tòa án: Bà Dương Thị Thanh Hoa - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ.

Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Ki m sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, t i trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 121/2021/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXXST- HS ngày 02/11/2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN MẠNH T, sinh ngày: 2x/12/2001; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không; Đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn HT, xã CT, huy n VC, t nh Yên Bái; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghi p: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1975. Hi n ở Thôn HT, xã CT, huy n VC, t nh Yên Bái; Anh chị em ruột: Bị cáo là con một; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 01 tiền án:

+ Bản án HSST số 145 ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, t nh Vĩnh Ph c xử ph t Nguyễn M nh T 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản trộm cắp: 61.624.000đ) theo quy định t i đi m c khoản 2 Điều 173 BLHS. T ra tr i ngày 20/7/2020.

Bị cáo bị bắt quả tang, t m giữ từ ngày 03/8/2021. Xác minh t i chính quyền địa phương và gia đình, bị cáo là đối tượng nghi n ma tuý, không có vi c làm ổn định, thường xuyên vắng mặt t i địa phương, nếu t i ngo i về địa phương nhiều khả năng bị cáo sẽ tiếp tục ph m tội. Do đó ngày 09/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra L nh t m giam đối với T, bị cáo hi n đang bị t m giam t i Tr i t m giam - Công an t nh Ph Thọ.

- Tiền sự: Không.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 10 ph t ngày 03/8/2021, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma t y Công an thành phố Vi t Trì đang làm nhi m vụ t i khu vực tổ 21, phố Mộ Thượng, phường B ch H c, thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ phát hi n 01 xe ô tô BKS 88A - 359.54 đang dừng ở ven đường có bi u hi n nghi vấn vi ph m pháp luật, tổ công tác tiến hành ki m tra trên xe ô tô có hai nam thanh niên tự khai tên là Bùi Viết T - Sinh năm 1985, hộ khẩu thường tr ở thôn T, xã TL, huy n YL, t nh Vĩnh Ph c (là lái xe taxi) và Nguyễn M nh T - Sinh ngày 2x/12/2001, hộ khẩu thường tr ở thôn HT, xã CT, huy n VC, t nh Yên Bái (ngồi c nh ghế lái). Đồng thời, T tự giác giao nộp cho Cơ quan Công an: 01 t i nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam, bên trong có 05 viên nén hình tròn một mặt có in chữ (gồm 04 viên màu vàng và 01 viên màu xanh); 01 t i nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn d ng bột màu trắng đang cầm ở tay phải. T khai nhận đó là ma t y tổng hợp mục đích đ bán.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản ph m tội quả tang đối với Nguyễn M nh T và thu giữ vật chứng nói trên, ngoài ra còn t m giữ 01 chiếc đi n tho i di động nhãn hi u Iphone màu đen đã qua sử dụng, số imei: 35862809342xxxx kèm 01 sim trong máy số 0326833xxx; Tiền Vi t Nam 1.000.000đ (một tri u đồng).

Cùng ngày 03/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Vi t Trì ra Quyết định trưng cầu giám định chất rắn d ng bột màu trắng và 05 viên nén hình tròn thu giữ của Nguyễn M nh T. T i Bản kết luật giám định số 940/KLGĐ ngày 06/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Ph Thọ kết luận:

“Mẫu chất rắn dạng bột màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon một đầu có khuy bấm viền màu đỏ gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng là 0,294 gam.

Mẫu 05 viên nén hình tròn một mặt có in chữ, trong đó có 04 viên nén màu vàng và 01 viên nén màu xanh, gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng là 1,703 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 35, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 27, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: 0,197 gam chất rắn dạng bột màu trắng và 1,014 gam viên nén cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.”

Căn cứ khoản 2, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về vi c tính tổng khối lượng hoặc th tích chất ma t y t i một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Tỷ l phần trăm của 1,703 gam lo i MDMA bằng 34,06%, tỷ l phần trăm của 0,294 gam lo i Ketamine bằng 1,47%, tổng tỷ l phần trăm về khối lượng của các chất ma t y dưới 100%. Do đó, thuộc trường hợp quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc số ma t y thu giữ khi bị bắt quả tang, Nguyễn M nh T khai nhận: Khoảng 05 giờ 00 ph t ngày 03/8/2021, Nguyễn M nh T một mình đi đến khu vực thị trấn Vĩnh Tường, huy n Vĩnh Tường, t nh Vĩnh Ph c đ tìm mua ma t y. T i đây, Nguyễn M nh T gặp một nam thanh niên tên là T, khoảng 20 tuổi ở thị trấn Vĩnh Tường, huy n Vĩnh Tường, t nh Vĩnh Ph c (không biết họ, tuổi, địa ch cụ th ) và hỏi mua được 01 t i nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam, bên trong có 05 viên nén hình tròn một mặt có in chữ gồm 04 viên màu vàng và 01 viên màu xanh là ma t y kẹo; 01 t i nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn d ng bột màu trắng là ma t y Ketamine với giá 4.000.000đ (bốn tri u đồng). Nguyễn M nh T cầm số ma t y trên và hẹn với nam thanh niên tên T một l c sau quay l i sẽ trả tiền, T đồng ý. Sau khi mua được ma t y, Nguyễn M nh T bắt taxi của anh Tường đi lên thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ mục đích đ bán số ma t y nói trên. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc phường B ch H c, thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ, Nguyễn M nh T bảo anh Tường dừng xe l i có vi c. Khi anh Tường vừa dừng xe thì bị tổ công tác Công an thành phố Vi t Trì ki m tra, phát hi n, lập biên bản bắt người ph m tội quả tang đối với T như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông tên T đã bán ma t y cho Nguyễn M nh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Vi t Trì đã tiến hành xác minh t i thị trấn Vĩnh Tường, huy n Vĩnh Tường, t nh Vĩnh Ph c nhưng không xác định được, do đó, không đủ căn cứ đ xử lý đối với người này.

Đối với anh Bùi Viết Tường là lái xe taxi, không biết vi c Nguyễn M nh T mang ma t y đi bán nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Nguyên nhân, điều ki n, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi ph m tội: Bị can Nguyễn M nh T là người nghi n ma t y, bản thân bị cáo không có công ăn vi c làm ổn định nên đã thực hi n hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y với mục đích đ bán kiếm lời, lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, t nh Vĩnh Ph c xử ph t 2 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do đó, lần ph m tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái ph m. T i cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi ph m tội của mình, phù hợp với các tài li u chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng và tài sản: 01 bì niêm phong số 940/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Ph Thọ hoàn trả sau khi giám định; 01 đi n tho i di động nhãn hi u IPHONE vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei: 35862809342xxxx kèm 01 sim trong máy số 0326833xxx (T sử dụng đ liên l c hàng ngày, không liên quan đến vụ án). Tiền Vi t Nam 1.000.000đ (một tri u đồng) là tiền do T lao động mà có. Số vật chứng và tài sản trên hi n đang t m giữ t i kho vật chứng của Công an thành phố Vi t Trì và tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Vi t Trì, t i Kho b c Nhà nước t nh Ph Thọ.

Về điều ki n kinh tế của bị cáo, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn M nh T không có vi c làm ổn định, sống cùng gia đình. Ngoài đồ dùng cá nhân sinh ho t hàng ngày, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị.

T i bản Cáo tr ng số: 121/CT-VKSTPVT ngày 21 tháng 10 năm 2021, Vi n ki m sát nhân dân thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ; truy tố bị cáo Nguyễn M nh T về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý"; theo quy định t i khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa, đ i di n Vi n ki m sát vẫn giữ nguyên quan đi m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn M nh T ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”

*Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Đi m s khoản 1 Điều 51; đi m h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Về hình phạt chính: Đề nghị xử ph t bị cáo Nguyễn M nh T từ 42 (Bốn hai) tháng tù đến 48 (Bốn tám) tháng tù. Thờ i hạn tù tı́nh từ ngày bị bắt tạm giữ 03/8/2021.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu 01 đi n tho i di động nhãn hi u IPHONE vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei: 3586280934xxxx5; Tiền Vi t Nam 1.000.000đ (một tri u đồng).

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào đi m c khoản 1 Điều 47; đi m a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 940/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an t nh Ph Thọ hoàn trả sau khi giám định; 01 sim số 0326833xxx.

*Về án phí: Căn cứ vào kho¶n 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đi m a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn M nh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Vi n ki m sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Vi t Trì, Điều tra viên; Vi n ki m sát nhân dân thành phố Vi t Trì, Ki m sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài li u khác có trong hồ sơ vụ án, th hi n như sau:

Hồi 06 giờ 15 ph t ngày 03/8/2021, t i tổ 21, phố Mộ Thượng, phường B ch H c, thành phố Vi t Trì, t nh Ph Thọ, Nguyễn M nh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y với tổng khối lượng 1,997 gam (trong đó: 1,703 gam lo i MDMA và 0,294 gam lo i Ketamine) mục đích đ bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an thành phố Vi t Trì phát hi n bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đối với hai chất ma t y thu giữ của T như trên, căn cứ khoản 2, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về vi c tính tổng khối lượng hoặc th tích chất ma t y t i một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, xác định tổng tỷ l phần trăm khối lượng của 02 chất ma t y dưới 100 %. Do vậy, T phải chịu trách nhi m hình sự quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của Nguyễn M nh T là hành vi nguy hi m cho xã hội không những đã xâm ph m đến sự độc quyền quản lý các chất ma t y của Nhà nước mà còn gây mất trật tự xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Do vậy, hành vi nêu trên của Nguyễn M nh T đã ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1.Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…;”

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi ph m tội: Xét, hành vi ph m tội của bị cáo thuộc lo i tội ph m nghiêm trọng do lỗi cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo không những đã xâm ph m đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma t y mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác h i của ma t y nhưng vẫn cố tình thực hi n. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình ph t Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo thấy rằng:

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo ngày 30/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, t nh Vĩnh Ph c xử ph t Nguyễn M nh T 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo T ra tr i ngày 20/7/2020. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà l i tiếp tục ph m tội vì vậy bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự quy định t i đi m h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là tái ph m.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự, được quy định t i Đi m s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, cần xử ph t bị cáo hình ph t tù có thời h n, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ đ bị cáo từ bỏ được ma t y và cải t o thành một người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định, ngoài đồ dùng sinh ho t thiết yếu cá nhân, bị cáo có 01 đi n tho i di động nhãn hi u IPHONE vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei: 35862809342xxxx là tài sản của T dùng sử dụng liên l c hàng ngày và số tiền 1.000.000đ (một tri u đồng) là tiền do T lao động mà có, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền những tài sản này là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 940/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Ph Thọ hoàn trả sau khi giám định và 01 sim trong máy số 0326833xxx không còn giá trị sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên T đã bán ma t y cho Nguyễn M nh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Vi t Trì đã tiến hành xác minh t i thị trấn Vĩnh Tường, huy n Vĩnh Tường, t nh Vĩnh Ph c nhưng không xác định được, do đó, không đủ căn cứ đ xử lý đối với người này là phù hợp.

Đối với anh Bùi Viết Tường là lái xe taxi, không biết vi c Nguyễn M nh T mang ma t y đi bán nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; Đi m s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; đi m a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; đi m a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn M nh T ph m tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn M nh T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thờ i hạn tù tı́nh từ ngày 03/8/2021.

* Về hình ph t bổ sung: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 đi n tho i di động nhãn hi u IPHONE vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei: 35862809342xxxx và số tiền 1.000.000đ (một tri u đồng) của bị cáo T.

*Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 940/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Ph Thọ hoàn trả sau khi giám định và 01 sim trong máy số 0326833xxx không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Vi t Trì và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vi t Trì) và Biên lai thu tiền số AA/2020/0006908 ngày 25/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vi t Trì .

*Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn M nh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, k từ ngày tuyên án, đ yêu cầu Tòa án nhân dân t nh Ph Thọ xét xử ph c thẩm.

Cỡ chữ