vanban.org

Bản án 122/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 12/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 7 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 que kim loại màu trắng dạng que chọc sim (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 04/10/2021 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 7 năm 2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2021/HS-ST
Ngày 12-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai

Ông Nguyễn Văn Hạnh.

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Cao Văn M, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 6/136 N, phường M, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn A và bà Hoàng Thị K (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 64/HSST ngày 19/6/1992 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản công dân, thời gian thử thách 18 tháng; Án số 450/HSST ngày 29/12/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân và 04 năm tù về tội Cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, đồng thời chấp hành cả 9 tháng án treo về tội Trộm cắp tài sản công dân tại bản án số 64/HSST ngày 19/6/1992 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử; Án số 31/HS-ST ngày 18/3/1999 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân; Án số 35/2016/HSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ ngày 13/7/2021; tạm giam ngày 22/7/2021; có mặt.

- Các bị hại:

1. Anh Vì Văn Q, sinh năm 1998; ĐKHKTT: C, S, S; vắng mặt.

2. Anh Đinh Văn L, sinh năm 1978; ĐKHKTT: Thôn c, D, N, N; chỗ ở: Số 30/792 T, phường K, quận L, H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 13/7/2021, Cao Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B2-769.87 đi đến lô 412 khu tái định cư 4,3 ha phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng nhằm mục đích tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Tại đây, M thấy có 01 nhà đang xây, không khóa cửa. M dựng xe ngoài đường rồi đi vào trong thì thấy anh Vì Văn Q và ông Nguyễn Hữu B đang nằm ngủ. Vì Văn Q nằm đầu hướng vào trong nhà, chân hướng ra ngoài cửa, bên cạnh đầu phía bên phải có để 01 chiếc điện thoại Vivo màu đen. Ông Nguyễn Hữu B nằm theo hướng ngược lại cách anh Q khoảng 01 mét. M đi vào, ngồi xuống cạnh anh Q, dùng tay phải cầm chiếc điện thoại. Khi đứng lên định đi ra ngoài cửa thì ông Nguyễn Hữu B hô lên: “Giữ lại”. M đặt điện thoại xuống bên trái chỗ Vì Văn Q. Ngay lúc đó, anh Quy và ông B đã bắt giữ Cao Văn M và báo cho Công an phường Vĩnh Niệm. Khoảng 14 giờ, Công an phường Vĩnh Niệm đã xuống đưa Cao Văn M cùng vật chứng gồm: 01 điện thoại Vivo màu đen, 01 điện thoại Iphone 6S màu xám về trụ sở Công an phường làm việc. Ngoài ra còn thu giữ của Cao Văn M 01 xe máy biển kiểm soát 15B2-76987, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 điện thoại Iphone 12 Pro max, 01 que chọc sim điện thoại, số tiền 1.100.000 đồng.

Tại cơ quan công an, Cao Văn M khai nhận trộm cắp 01 điện thoại Vivo màu đen của anh Q như nội dung trên và khai trong số tài sản thu giữ của M là tài sản cá nhân, còn chiếc điện thoại Iphone 6S là tài sản M vừa trộm cắp được lúc 12 giờ 30 phút tại nhà số 30/792 Thiên Lôi.

Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác M làm rõ như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/7/2021, M đi qua nhà số 30/792 Thiên Lôi, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng thấy cửa mở nên dựng xe ngoài đường rồi đi vào bên trong xem có gì thì trộm cắp. Vào nhà, M thấy anh Đinh Văn L đang ngủ, bên cạnh có đặt 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám trên chiếc ba lô màu xanh. M dùng tay phải rút sạc rồi cầm điện thoại đi ra xe quay lại đường Thiên Lôi. Trên đường đi, M dừng xe, tháo sim vứt đi và cất điện thoại vào cốp xe. Khoảng 13 giờ 30 phút, anh Đinh Văn L ngủ dậy không thấy điện thoại đâu. Đến 15 giờ anh L được Cơ quan công an thông báo đã bắt được đối tượng trộm cắp điện thoại của anh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72 ngày 13/7/2021, số 78 ngày 28/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng là 2.200.000 đồng; giá trị còn lại của 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S màu ghi đã qua sử dụng là 2.500.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 04/10/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Cao Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Cao Văn M và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Cao Văn M mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: Bị hại Vì Văn Q và Đinh Văn L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 que chọc sim mà M sử dụng để tháo vứt sim điện thoại của anh Lợi.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại 01 chiếc điện thoại Vivo màu đen cho anh Vì Văn Q, 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám cho anh Đinh Văn L.

Đối với chiếc xe Airblade biển kiểm soát 15B2-769.87, 01 sợi dây chuyền, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, số tiền 1.100.000 đồng, kết quả điều tra xác định những đồ vật trên là tài sản riêng của Cao Văn M, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho chị Vũ Thị Loan (vợ Cao Văn M).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 12 giờ 30 phút tại nhà số 30/792 Thiên Lôi, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng và khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày 13/7/2021 tại lô 412 khu tái định cư 4,3 ha phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng, lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu, Cao Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại Vivo của anh Vì Văn Q, sinh năm 1998; ĐKHKTT: Chiềng Cang, Sông Mã, Sơn La trị giá 2.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 6S của anh Đinh Văn L, sinh năm 1978; trú tại: Số 30/792 Thiên Lôi, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 4.700.000đ (bốn triệu bẩy trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Cao Văn M về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý bằng bản án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để răn đe bị cáo.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:

Về nhân thân bị cáo có 4 tiền án. Các tiền án đều đã được xóa nhưng cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, do vậy cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản mỗi lần chiếm đoạt là trên 2 triệu đồng. Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã tự khai ra hành vi trộm cắp điện thoại của anh Đinh Văn L; quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “tự thú” và “thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm r , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại Vivo của anh Vì Văn Q và 01 điện thoại Iphone 6S của anh Đinh Văn L với tổng trị giá là 4.700.000 đồng. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe Airblade biển kiểm soát 15B2-769.87, 01 sợi dây chuyền, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, số tiền 1.100.000 đồng, do không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho chị Vũ Thị Loan (vợ Cao Văn M) nên không xét. Đối với 01 que chọc sim mà M sử dụng để tháo vứt sim điện thoại của anh Lợi xét là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Cao Văn M 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 7 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 que kim loại màu trắng dạng que chọc sim (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 04/10/2021 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cao Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại anh Vì Văn Q và anh Đinh Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ