vanban.org

Bản án 122/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: Tuấn) 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN THE L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: Tuấn) 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2020/HS-ST
Ngày 30-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Oanh Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tảo;

2. Bà Nguyễn Hồng Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Diên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế L (Tên gọi khác: T), sinh ngày 02 tháng 10 năm 1972 tại Thành phố H; HKTT: Số 57/10 ấp T 2, xã T, huyện H, Thành phố H; nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị M (chung sống như vợ chồng), có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; Về nhân thân: Vào ngày 18/01/2007, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong, được xóa án tích; vào ngày 22/7/2011, bị Công an xã Tân Thới N, huyện H M, Thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính, được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/8/2020 chuyển tạm giam từ ngày 21/8/2020 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền sử dụng ma túy và tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng đầu tháng 6/2020, Nguyễn Thế L mua ma túy của người tên “Chế” ở khu vực cửa số 2, Tòa Thánh Tây Ninh thuộc phường Long Hoa, thị xã H, tỉnh Tây Ninh 03 lần, mỗi lần 01 bịch với giá 1.500.000 đồng rồi mang về phòng trọ số 3, nhà trọ Lộc Tài thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nơi L thuê để sống cùng với Nguyễn Thị M, sinh năm 1982, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, do bà Nguyễn Thị Út, sinh năm 1966 làm chủ. Tại đây, Lực phân chia ma túy ra thành nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán. Khi những người nghiện ma túy có nhu cầu thì điện thoại cho L để thỏa thuận số lượng, giá cả và địa điểm giao nhận ma túy. Nguyễn Thế L trực tiếp bán ma túy cho những người nghiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:

Vào các ngày 06/8/2020, ngày 10/8/2020, ngày 11/8/2020, Nguyễn Thế L bán ma túy cho Trần Thành L, sinh năm 2000 và Phạm Văn H, sinh năm 1999, cùng ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 03 lần, mỗi lần 01 bịch với giá 500.000 đồng. Đến lúc 11 giờ 50 phút ngày 12/8/2020, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Tân Biên bắt quả tang Nguyễn Thế L đang bán 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng cho Trần Thành L và Phan Văn H, mỗi người hùn 250.000 đồng để mua ma túy.

Tiến hành khám xét thu giữ dưới nệm trên sàn trong phòng trọ của Nguyễn Thế L 03 đoạn ống nhựa chứa ma túy và dưới gốc bếp trong phòng trọ của L 01 bịch ma túy.

Quá trình điều tra Nguyễn Thế L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời còn khai nhận các lần phạm tội trước đó chưa bị Cơ quan điều tra phát hiện.

Nguyễn Thế L có nhân thân xấu: Vào ngày 18/01/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong, đã được xóa án tích; vào ngày 22/7/2011, bị Công an xã T, huyện H, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính.

* Kết quả trưng cầu giám định: Kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:

+ Mẫu ký hiệu M1 thu giữ trong túi quần của Trần Thành L là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0495 gam.

+ Mẫu ký hiệu M2 thu giữ trong phòng trọ của Nguyễn Thế L là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2696 gam.

+ Mẫu ký hiệu M3 thu giữ trong phòng trọ của Nguyễn Thế L là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4040 gam.

* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản thì Nguyễn Thế L không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

* Đối với Nguyễn Thị M mặc dù sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thế L nhưng không biết L bán ma túy và không tham gia giúp sức cho L bán ma túy nhưng M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Trần Thành L, Phan Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

* Đối với người tên “C” bán ma túy cho Nguyễn Thế L do chưa xác đi ̣nh được ho ̣ tên, đi ̣a chi cu ̣̉ thể, khi nào xác đi ̣nh được và có đủ căn cứ se xữ ̉ lý sau.

* Đối với bà Nguyễn Thị Ú, chủ nhà trọ Lộc Tài khi cho Nguyễn Thế L thuê phòng trọ có vào sổ quản lý lưu trú theo đúng quy định và không biết việc L bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên không xử lý đối với bà Ú là có căn cứ.

Bản cáo trạng số 115/QĐ/KSĐT, ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: T) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thế L.

Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ gói thuốc lá hiệu CRAVEN “A”; 05 dao lam, 03 hột quẹt; 01 bì thư kí hiệu M2: 0,2099 gam (không phẩy hai không chín chín gam); 01 bì thư kí hiệu M3: 1,2867 gam (một phẩy hai tám sáu bảy gam) còn lại được niêm phong có chữ ký của giám định viên và trợ lý giám định; 01 sim điện thoại số 0906826180;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số sêri: 353102112984650; và số tiền bị cáo Nguyễn Thế L thu lợi bất chính là 2.000.000 (hai triệu) đồng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Thế L 21.800.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thế L thừa nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 12/8/2020, Công an huyện Tân Biên bắt quả tang Nguyễn Thế L đang bán 01 bịch ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0495 gam với giá 500.000 đồng cho Trần Thanh L và Phan Văn H, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tiến hành khám xét thu giữ trong phòng trọ của Nguyễn Thế L 03 đoạn ống nhựa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2696 gam; 01 bịch ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4040 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thế L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Quá trình điều tra mở rộng xác định được trong khoảng thời gian từ ngày 06/8/2020 đến ngày 11/8/2020, Nguyễn Thế L còn bán ma túy cho Trần Thanh L và Phan Văn H 03 lần, với tổng số tiền 1.500.000 đồng, cụ thể: bán cho Trần Thanh L và Phan Văn H 01 lần, 01 bịch ma túy giá 500.000 đồng; bán cho Phan Văn H 02 lần, 02 bịch ma túy giá 500.000 đồng/bịch. Nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Do đó Bản cáo trạng số 115/QĐ/KSĐT ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thế L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nghiêm cấm việc trồng, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thế L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự thú ra những lần phạm tội trước đó; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức án khi quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Vào ngày 18/01/2007, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong, được xóa án tích; vào ngày 22/7/2011, bị Công an xã T, huyện H, Thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Thị M, Trần Thành L, Phan Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính; Đối với người tên “Chế” bán ma túy cho Nguyễn Thế L do chưa xác đi ̣nh được ho ̣ tên, đi ̣a chi cu ̣̉ thể , khi nào xác đi ̣nh được và có đủ căn cứ se xữ ̉ lý sau là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị Ú, chủ nhà trọ Lộc Tài khi cho Nguyễn Thế L thuê phòng trọ có vào sổ quản lý lưu trú theo đúng quy định và không biết việc L bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên không xử lý đối với bà Ú là có căn cứ.

Xử lý vật chứng:

- 01 bì thư kí hiệu M2: 0,2099 gam; 01 bì thư kí hiệu M3: 1,2867 gam là ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên và trợ lý giám định là vật cấm lưu hành, chứa ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 vỏ gói thuốc lá hiệu CRAVEN “A”; 05 dao lam, 03 hộp quẹt; 01 sim điện thoại số 0906826180 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số sêri: 353102112984650 của bị cáo Nguyễn Thế L sử dụng để liên lạc mua, bán ma túy nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 70E1 - 274.06, số khung 1210DY734537, số máy HC12B5734565, chủ sở hữu là Nguyễn Thị M; Nguyễn Thị M không biết việc bị cáo Nguyễn Thế L dùng xe để đi mua bán ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị M là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Tiền Việt Nam: 21.800.000đ (hai mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng) không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả cho bị cáo nhưng cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Truy tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền có được từ việc mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn Thế L là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Bị cáo Nguyễn Thế L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: Tuấn) 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì thư kí hiệu M2: 0,2099 gam (không phẩy hai không chín chín gam); 01 bì thư kí hiệu M3: 1,2867 gam (một phẩy hai tám sáu bảy gam) là ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên và trợ lý giám định;

+ 01 vỏ gói thuốc lá hiệu CRAVEN “A”;

+ 05 dao lam, 03 hộp quẹt; 01 sim điện thoại số 0906826180.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số sêri: 353102112984650 và 2.000.000 (hai triệu) đồng của bị cáo L.

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thế L 21.800.000 đồng nhưng tạm giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2020).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn Thế L (tên gọi khác: T) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ