- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a b ị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bả n án hình sự sơ thẩm số : 55/2020/HS-ST ngày 26-9-2020 của Tòa án nhân dân huyệ n Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông về phầ n hì nh phạ t đố i vớ i bị cáo Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2020/HS-PT Ngày 03-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈ NH ĐẮ K NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thông;
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Ngọc;
Ông Lê Quốc Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Minh Tú là Thư ký Toà á n nhân dân tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉ nh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Toà á n nhân dân tỉ nh Đắ k Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2020/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2020/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyệ n Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1991 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Hoàng Thị N; tiền án: Ngày 26/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án hình sự số 17/2017/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-01-2018; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2020, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Vũ Phi H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 02-6-2020, Nguyễn Văn D mua 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng của một đối tượng ở thành phố Hồ chí Minh (không xác định được nhân thân lai lịch) nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, D về nhà nghỉ H, thuộc tổ dân phố 5, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thuê phòng và chia gói ma túy trên thành 25 gói nhỏ. Tại nhà nghỉ H, D gặp Vũ Phi H, Vũ Hắc L, Nông Văn T (đều là bạn của D), cả nhóm thống nhất thuê phòng số 108 nhà nghỉ Đ, thuộc tổ dân phố 8, thị trấn K để sử dụng ma túy. Tại đây, D lấy 01 gói ma túy trong 25 gói ma túy đã chia trước đó đưa cho cả nhóm sử dụng, số ma túy còn lại D cất giấu ở cửa sổ của nhà nghỉ, nhưng không nói cho H, L và T biết. Gói ma túy D đưa cho cả nhóm mang ra sử dụng, nhưng chỉ sử dụng hết một phần, phần còn lại đựng trong túi nilon thì H dùng bật lửa ga hàn lại rồi để trên bàn của phòng nghỉ.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/6/2020, H nói với D là bạn của H là Huỳnh Xuân H có gọi điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy, thì D nói số ma túy còn lại sử dụng lần trước chưa hết (để trên bàn của phòng nghỉ) đem đi bán cho Huỳnh Xuân H thì Vũ Phi H đồng ý và mang số ma túy trên đến ngã ba đường Lê Hữu Trác, thuộc tổ dân phố 8, thị trấn K, tỉnh Đắk Nông bán cho Huỳnh Xuân H và lấy 500.000 đồng về đưa cho D.
Quá trình điều tra xác định Huỳnh Xuân H đi mua dùm ma túy cho Bùi Văn M. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp tiến hành truy tìm thì phát hiện Bùi Văn M đang ở Quảng trường, thuộc tổ dân phố 2, thị trấn K, nên đã thu giữ của Bùi Văn M 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, được ký hiệu là M01.
Đến 11 giờ 30 phút, ngày 04-6-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp phát hiện bắt quả tang Nguyễ n Văn D , thu giữ 01 gói nilon, trong suốt bên trong có 24 gói nilon nhỏ (trong đó 11 gói màu đỏ và 13 gói màu trắng trong suốt), bên trong có chứa hạt tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy do D cất giấu tại cửa sổ phía sau phòng 108 của nhà nghỉ Đ, ký hiệu là M02 cùng một số công cụ khác dùng vào việc phạm tội.
Tại bản kết luận giám định số 69/KLMT - PC09 ngày 09/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu M01 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0444gam; là Methamphetamine; tinh thể màu trắng đựng trong 24 gói nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu M02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 4,7332gam; là Methamphetamine;
Hoàn lại đối tượng giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong phong bì thư, ký hiệu M01 hoàn lại sau giám định, có khối lượng mẫu là 0,0115 gam; tinh thể màu trắng đựng trong phong bì thư, ký hiệu M02 hoàn lại sau giám định, có khối lượng mẫu là 4, 0531 gam.
Bản án hình sự sơ thẩm số : 55/2020/HS-ST ngà y 26-9-2020 của Toà án nhân huyệ n Đắk R’lấp đã quyế t đị nh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vũ Phi H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (04/6/2020).
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn xử phạt đố i vớ i bị cá o Vũ Phi H; xử lý vậ t chứ ng; tuyên về á n phí và thông bá o quyề n khá ng cá o.
Ngày 28-9-2020 bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo xin đượ c giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn D không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tí ch cá c tì nh tiế t , chứ ng cứ củ a vụ á n , Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Đắ k Nông đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử : Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điề u 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2020/HS-ST ngày 26-9-2020 của Tòa án nhân dân huyệ n Đắk R’lấp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04-6-2020, tại nhà nghỉ Đ, thuộc tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ. Bị cáo D có hành vi cất giấu 4,7332 gam chất ma túy là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp phát hiện bắt quả tang. Trước đó, khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo D có hành vi đưa cho Vũ Phi H 0,0444 gam chất ma túy Methamphetamine bán cho Huỳnh Xuân H để sử dụng. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩ m số : 55/2020/HS-ST ngà y 26-9-2020 của Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp đã kế t á n bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; kết án bị cáo Vũ Phi H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đú ng phá p luậ t.
. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D xin đượ c gi ảm nhẹ hình phạt, Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể: Ngườ i phạ m tộ i thà nh khẩ n khai bá o , ăn năn hố i cả i quy đị nh tạ i điể m s khoản Điề u 51 Bộ luậ t Hì nh sự ; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là tương xứng với vớ i tí nh chấ t, mứ c độ , hậ u quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp Huân chương chiế n sĩ giả i phóng của ông nộ i bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đị nh tạ i khoả n2 Điề u 51 của Bộ luậ t hì nh sự, vì theo hướ ng dẫ n tạ i Nghị quyế t số 01/2000/NQ-HĐTP ngà y 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước mớ i đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trách nhiệm hình sự . Do đó, không có căn cứ để chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m về mứ c hì nh phạ t đối với bị cáo.
Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ và đúng pháp luật, cần chấp nhận.
. Về án phí hì nh sự phúc th ẩm: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo , kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng, cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điề u 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a b ị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bả n án hình sự sơ thẩm số : 55/2020/HS-ST ngày 26-9-2020 của Tòa án nhân dân huyệ n Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông về phầ n hì nh phạ t đố i vớ i bị cáo Nguyễn Văn D.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04-6-2020.
2. Về á n phí phúc thẩ m : Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy đị nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng á n phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tạ i Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉ nh Đắ k Nông; - Sở Tư phá p tỉ nh Đắ k Nông; - Phòng HSNVCS-CA tỉ nh Đắ k Nông; - TAND huyệ nĐắk R’lấp; - VKSND huyệ nĐắk R’lấp; - CA huyệ n Đắk R’lấp; - Chi cụ c THADShuyệ nĐ; - UBND xã N, huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký ) Phạm Thị Thông |