- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Lê Thị H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H . Sửa một phần bản
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 122 /2019/DS-PT Ngày: 22/ 02/ 2019 Vv: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Huyền Phương
Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Bá Thịnh
2/ Bà Phạm Thị Kim
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Phục - Cán bộ
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 676/2018/TLDS-
PT ngày 25/12/2018, do bản án dân sự sơ thẩm số 1217/2018/DS-ST Ngày:
29/11/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ” của Toà án nhân dân
Quận Z bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 274/2019/QĐ-PT ngày
22/ 01/ 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1975
Địa chỉ: 114/8/11/4 Đường Chiến L, Khu phố X, Phường Y, Quận Z,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị H , sinh năm 1969;
Địa chỉ: 304 Đường Tỉnh Lộ Q, Khu phố X, Phường Y, Quận Z, Thành
phố Hồ Chí Minh.
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị H .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2018, các bản tự khai, các Biên bản hòa
giải cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn
Thị T trình bày:
Ngày 07/6/2014 bà T có cho bà Lê Thị H vay số tiền 50.000.000 đồng,
vay không có lãi suất, thời hạn trả đến 07/8/2014. Việc vay mượn có làm Giấy
vay tiền do bà T viết và bà H ký tên. Để đảm bảo khoản vay bà H có đưa cho bà T bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân quận Z, bản phô tô chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú của bà H. Hết thời hạn vay, bà T nhiều lần yêu cầu bà Lê Thị H trả lại cho bà T số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi bà H trả tiền, bà H sẽ trả lại cho bà T bản chính bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân quận Z, bản phô tô chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú của bà H.
Tại biên bản ghi lời khai, các Biên bản hòa giải cùng các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án bị đơn bà Lê Thị Htrình bày: Vào năm 2003 bà Lê Thị H có vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 10.000.000 đồng, trả lãi mỗi ngày 150.000 đồng, trả được 01 tháng do khó khăn không trả được nữa nên bà T đưa thêm cho bà H số tiền 2.000.000 đồng và tính thành số tiền vay 20.000.000 đồng. Khi đưa số tiền 2.000.000 đồng bà T có yêu cầu bà H ký vào giấy vay tiền ngày 07/6/2014 nhưng thật ra ngày ký không phải là 07/6/2014 mà là năm 2013, số tiền không phải 50.000.000 đồng mà là 20.000.000 đồng. Khi ký Giấy vay tiền bà H có đưa cho bà T bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân quận Z, bản hô tô chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú của bà H. Sau đó bà H đã trả hết toàn bộ số tiền 20.000.000 đồng cho bà T. Nay bà T yêu cầu bà H trả số tiền 50.000.000 đồng bà H không đồng ý vì bà H không có vay tiền của bà T.
Bản án số : 1217 /2018/DS-ST ngày 29/11/2018 về việc “ Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản ” của Toà án nhân dân Quận Z đã tuyên xử:
Căn cứ
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35. Điểm a khoản 1 Điều 39. Điều
147, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự;
Các Điều 471, 474 và 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357 và
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Lê Thị
H có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Trả một lần ngày khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi bà Lê Thị H trả xong nợ thì bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả
lại cho bà Huệ bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QQĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân Quận Z, bản phô tô chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú của bà Huệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành, nếu
bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên chậm trả còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền .
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000 (hai triệu năm
trăm ngàn) đồng.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000
(một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0030308 ngày 12/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận
Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
Sau khi nghe hội đồng xét xử phân tích, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T
trình bày: Do bà Huệ đang bị bệnh nên bà Thuận chỉ yêu cầu bà Lê Thị H trả lại
cho bà T số tiền vay 20.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có
hiệu lực pháp luật. Sau khi bà H trả tiền, bà T sẽ trả lại cho bà H bản chính
Quyết định đổi số nhà số 1149/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân
quận T Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu sửa án theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về hình thức:
Từ khi thụ lý giải quyết vụ án phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc
thẩm Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện các quyền và chấp hành đúng quy
định của pháp luật.
Về thời hạn kháng cáo:
Tòa án nhân dân Quận Z đưa vụ án ra xét xử ngày
29/11/2018 đến ngày 05/12/2018 bị đơn bà Lê Thị H có đơn kháng cáo, căn cứ
điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, kháng cáo còn trong hạn luật định nên
được chấp nhận xem xét.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 07/6/2014 có chữ
ký của bà Lê Thị H số tiền vay là 50.000.000 đồng, thời hạn trả là 07/8/2014.
Có sơ sở xác định giữa hai bên có giao dịch vay tiền, yêu cầu của nguyên đơn là
có căn cứ. Lời khai của bà Huệ là không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa phúc
thẩm, nguyên đơn bà Thuận chỉ yêu cầu bà Huệ trả lại 20.000.000 đồng là tự
nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân Quận Z đưa vụ án ra xét xử
ngày 27/11/2018 đến ngày 05/12/2018 bị đơn có đơn kháng cáo, căn cứ Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét.
[2] Về thẩm quyền xét xử:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 8 năm 2018 nguyên đơn yêu cầu bị
đơn hoàn trả số tiền đã vay. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.
[3] Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đã vay là 50.000.000
đồng theo giấy vay tiền đề ngày 07/5/2014. Phía bị đơn không đồng ý.
Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là giấy vay tiền đề ngày 7/6/2014 có
chữ ký xác nhận của bị đơn là bà Huệ.
Bị đơn bà Lê Thị H thừa nhận có ký Giấy vay tiền đề ngày 7/6/2014 nhưng
cho rằng thời gian ký là năm 2013, số tiền vay là 20.000.000 đồng chứ không phải 50.000.000 đồng và đã trả hết nên bà Huệ không đồng ý trả cho bà Thuận số tiền 50.000.000 đồng. Ngoài lời khai bà Huệ không có chứng cứ gì khác và phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không thừa nhận lời khai này của bị đơn.
Chứng cứ duy nhất xem xét là giấy vay tiền đề ngày 7/6/2014. Nội dung
giấy vay tiền ngày 7/6/2014 thể hiện bà H vay của bà Thuận 50 triệu đồng không lãi suất. Thời hạn vay từ ngày 7/6/2014 đến ngày 7/8/2014. Giấy vay tiền có chỉnh sửa về tháng vay tiền và tháng trả tiển.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thừa nhận có sửa tháng vay tiền trong Giấy
vay tiền đề ngày 7/6/2014 từ 7/5/2014 thành 7/6/2014.
Hội đồng xét xử xét thấy: Về số tiền vay 50 triệu và năm vay tiền là 2014
không có dấu hiệu chỉnh sửa nên không làm thay đổi bản chất số tiền vay và năm vay tiền như phía bà Huệ trình bày. Theo Giấy vay tiền ngày 7/6/2014 thể hiện đến ngày 7/8/2014 bà Huệ phải trả lại cho bà Thuận số tiền nợ trên nhưng đến nay bà Huệ vẫn chưa thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở xem xét.
Xét, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị T tự nguyện
chỉ yêu cầu bị đơn bà Lê Thị H trả 20.000.000 đồng do bà Huệ đang khó khăn và bị bệnh. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Thuận là phù hợp.
Theo xác nhận của hai bên để đảm bảo khoản vay tiền thì bà Thuận hiện
giữ của bà Huệ bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QQĐ-UBND ngày 03/3/2006 của Ủy ban nhân dân Quận Z, bản phô tô chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú của bà Huệ.
Nên cần buộc hai bên thi hành việc trả tiền và giấy tờ dưới sự giám sát của
Thi hành án có thẩm quyền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
[4]Về án phí
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
trên số tiền 20.000.000 đồng phải trả cho bà Nguyện Thị T, cụ thể là bà H phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng.
Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000
(một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số AA/2018/0030308 ngày 12/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân
sự Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên căn cứ
khoản 2 Điều 148 người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn lại cho bà Lê Thị H án phí dân sự phúc thẩm tạm nộp.
Từ nhận định trên;
Căn cứ Khoản 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H . Sửa một phần bản
án DSST số 1217/2018 /DS-ST ngày 29/11/2018 về việc:“ Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản ” của Toà án nhân dân Quận Z.
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35. Điểm a khoản 1 Điều 39. Điều
147, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự;
- Điều 471, 474 và 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357 và Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Buộc bà Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền
20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Trả một lần ngày khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Sau khi bà Lê Thị H trả xong nợ thì bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả lại
cho bà Huệ bản chính Quyết định đổi số nhà số 1149/QQĐ-UBND ngày
03/3/2006 của Ủy ban nhân dân Quận Z, bản phô tô chứng minh nhân dân và hộ
khẩu thường trú của bà Huệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành, nếu
bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên chậm trả còn phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền .
[2]. Về án phí :
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là
1.000.000 (một triệu) đồng.
Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000
(một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0030308 ngày 12/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn lại cho Bà Lê Thị H 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm tạm nộp theo Biên lai số AA/2018/ 0030600 ngày 05 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Z.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TPHCM; - VKSND TP.HCM; - TAND quận Z; - Chi cục THADS quận Z; - Cục THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Huyền Phương |