- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/HS-ST Ngày: 30-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Vui.
2. Bà Phạm Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2018/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn G, tên gọi khác: không có; sinh ngày 19/4/1993, tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn Bãi Hai, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Lương Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/4/2018, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
*Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Đình M, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Tổ 1, khu Đồng Minh, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Tổ 4, khu Tân Lập, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 50 phút, ngày 30/4/2018, Tổ Công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Uông Bí phối hợp với Công an phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, trong khi làm nhiệm vụ tại tổ 3, khu Liên Phương, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, phát hiện bắt quả tang Bùi Văn G có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía trước, bên trái G đang mặc 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng và thu giữ tại nền đường ngay sát vị trí G đứng 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. G khai nhận 03 túi nilon trên đều là ma túy “đá” G mua về để sử dụng.
Ngoài ra, Công an còn thu giữ của G 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc Mobilstar gắn sim số 0964.585.059; 01 điện thoại Masstel màu xám, gắn sim số 0906.086.170); 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn G; 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX biển kiểm soát 14Y1 -076.38 và số tiền 400.000đ.
Tại bản kết luận giám định số 348/GĐMT ngày 02/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon thu giữ của Bùi Văn G là ma túy Methamphetamine; tổng khối lượng là 0,533 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn G khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/4/2018 khi G đang đi chơi tại khu vực phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên thì G gọi điện đến số thuê bao 0971.762.220 hỏi mua của người phụ nữ tên là Cún (khoảng 30 tuổi, không rõ lai lịch, nhà ở gần trụ sở Công an phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên) 500.000đ ma túy “đá”. Chị Cún đồng ý và bảo G đi vào ngõ nhà Cún để đưa ma túy cho. G đi bộ vào ngõ gần nhà Cún thì thấy Cún đứng chờ sẵn G đưa 500.000đ cho Cún thì Cún đưa cho G 03 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng. G cầm và xác định đúng là ma túy loại “đá” cần mua, nên cất vào túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi đón xe ôm đến 01 quán Internet thuộc phường Phương Đông, thành phố Uông Bí để chơi điện tử. Khoảng 12 giờ ngày 30/4/2018, G ra ngồi uống nước tại 01 quán nước gần cổng trường Cao đẳng Công nghiệp và xây dựng thuộc phường Phương Đông thì thấy 01 người bạn G quen (sau này G biết tên là Nguyễn Thị Thanh T, nhà ở tổ 1, khu Bí Trung 2, phường P, thành phố U) điều khiển xe mô tô Nouvo LX màu trắng, BKS 14Y1- 076.38 đi qua, G gọi lại và mượn chiếc xe này của T. Khi điều khiển đến đoạn đường thuộc tổ 3, khu Liên Phương, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Trong lúc Công an kiểm tra 01 trong 03 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng trong túi quần phía trước, bên trái G đang mặc bị rơi xuống nền đường ngay vị trí G đang đứng, G khai nhận toàn bộ số ma túy trên là ma túy “đá” G mua về để sử dụng.
Đối với đối tượng Cún, G khai là người bán ma túy cho G, Cơ quan điều tra đã xác minh được lai lịch, địa chỉ là Lê Thị H, tuy nhiên xác minh nhiều lần đối tượng H không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 127/CT- VKSUB ngày 06/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như tóm tắt nội dung vụ án đã nêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/4/2018.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,34 gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 348/GĐMT của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn; trả lại cho bị cáo G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đỏ đen gắn sim 0964.585.059, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xám gắn sim 0906.086.170, số tiền 400.000 đồng nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX, BKS 14Y1- 076.38, quá trình điều tra xác minh chiếc xe trên là của chị Bùi Thị H nhà ở khu Bí Giàng, phường Y, thành phố U. Chị H đã cho chị T mượn xe vào ngày 30/4/2018. Chị T đã cho G mượn lại chiếc xe trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị H, nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn G, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lương Thị T là mẹ của bị cáo G, nên không đề cập.
Những người chứng kiến là ông Nguyễn Văn T và Nguyễn Đình M có lời khai trong quá trình điều tra cơ bản phù hợp với nội dung vụ án.
Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thụ thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai xác nhận của những người chứng kiến ông Nguyễn Đình M, ông Nguyễn Văn T, với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Quang Trung, thành phố Uông Bí lập hồi 12 giờ 05 phút ngày 30/4/2018, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 50 phút, ngày 30/4/2018, tại khu vực tổ 3 khu Liên Phương, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn G là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,533 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh ra các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, HĐXX sẽ xem xét, cân nhắc để có mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .
Về hình phạt chính: Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy Methamphetamine, thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đỏ đen gắn sim 0964.585.059 và chiếc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xám gắn sim 0906.086.170; số tiền 400.000 đồng, bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX, BKS 14Y1- 076.38 và 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn G, đã được xử lý trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Văn G 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/4/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 348/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh được niêm phong bên trong chứa 0,34 gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
- Trả lại cho bị cáo G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đỏ đen gắn sim 0964.585.059; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xám gắn sim 0906.086.170; số tiền 400.000 đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Văn G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát ND-TP. Uông Bí; - Công an TP Uông Bí; - Chi cục THA DS TP. Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |