- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Trọng Lưu - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/HS-ST Ngày 28-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Nguyễn Văn Chương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Đỗ Trọng L, sinh năm 1964 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 14/155 tổ dân phố 11, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 1, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Phan Thị P (đã chết); có vợ Vũ Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 6 năm 2018 đến ngày 14 tháng 6 năm 2018 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn Quyết, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn 3, xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Đỗ Văn Thời; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn Tự; vắng mặt.
3. Anh Đinh Chính Sáu; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên Đỗ Trọng L thường mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng 07 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2018, L một mình đi sang đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) với giá 400.000 đồng và 01 túi ma túy loại Heroin với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L mang về nhà chia gói ma túy loại Methaphetamine thành 03 túi nilon nhỏ, chia gói ma túy loại Heroin thành 07 túi nhỏ và bán với giá 200.000 đồng/gói ma túy đá hoặc heroin. Đến khoảng 09 giờ ngày 05 tháng 6 năm 2018 khi L đang ở nhà tại thôn 1, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thì nhận được điện thoại của Trần Văn Quyết, sinh năm 1992, trú tại: Xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng hỏi mua 01 gói ma túy loại Heroin, L đồng ý và bảo Quyết đến nhà L để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút, Trần Văn Quyết đi cùng Đỗ Văn Thời, sinh năm 1986, trú tại: Xã Hòa Bình, xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đến nhà L. Tại đây, Quyết trực tiếp đưa cho L số tiền 200.000 đồng và bảo “bán cho bọn em một gói” còn Thời đứng sát bên cạnh Quyết. L nhận tiền 200.000 đồng và đưa cho Quyết 01 gói Heroin. Khi L, Quyết, Thời vừa giao dịch mua bán trái phép chất ma túy xong thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp với Ban Phòng chống tội phạm về ma túy - Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 cùng Đồn Công an Bến Rừng, Công an xã Ngũ Lão phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Trần Văn Quyết 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi ma túy), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 01659.068.992; thu của Đỗ Trọng L số tiền 1.650.000 đồng (trong đó có số tiền 200.000 đồng do L vừa bán ma túy cho Quyết và Thời). Quá trình bắt giữ tại nơi ở của L còn có Đinh Chính Sáu, sinh năm 1967, trú tại: Thôn 4, xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên Tổ công tác đã đưa Đỗ Trọng L, Trần Văn Quyết, Đỗ Văn Thời và Đinh Chính Sáu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Ngũ Lão lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Trọng L, Cơ quan Công an thu giữ: Tại gầm ghế gian phòng khách 01 bật lửa ga, 01 kéo, 02 ống hút nhựa màu xanh, 01 nỏ thủy tinh; tại phên bê tông trước cửa phòng ngủ của L 01 túi nilon kích thước 8cm x 12cm, bên trong có 03 túi nilon kích thước 2,5cm x 2,5cm đều chứa tinh bột màu trắng nghi là chất ma túy; tại nền nhà phòng ngủ của L 01 túi nilon kích thước 7cm x 5cm, bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; tại gầm bàn bên trong phòng ngủ của L 04 mảnh giấy bạc kích thước 7cm x 4cm, 01 dao lam, 10 mảnh giấy báo kích thước 3cm x 4cm; tại bàn trang điểm trong phòng ngủ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 0906.164.996.
Ngoài ra, Đỗ Trọng L còn khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2018, cũng tại nơi ở của mình với phương thức, thủ đoạn như trên L đã bán cho Trần Văn Quyết và Nguyễn Văn Tự, sinh năm 1982, trú tại: Xã Hoa Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 01 gói ma túy loại Heroin với giá 200.000 đồng. Đối với các đồ vật Công an thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà L là dụng cụ L dùng để sử dụng ma túy và chia nhỏ ma túy bán lại cho các đối tượng nghiện; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0906.164.996 L dùng để liên lạc cá nhân và giao dịch mua bán trái phép chất ma túy; số tiền 1.650.000 đồng bị thu giữ, trong đó có 200.000 đồng do L bán ma túy cho Quyết và Thời vào ngày 05 tháng 6 năm 2018, còn lại 1.450.000 đồng là tiền sinh hoạt của gia đình, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 292/KLGĐ(Đ6) ngày 07/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu của Trần Văn Quyết là ma túy, có khối lượng 0,0170 gam, là loại Heroine; tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon thu tại phên bê tông trước cửa phòng ngủ của Đỗ Trọng L là ma túy, có khối lượng 0,3328 gam, là loại Methamphetamine; chất bột màu trắng trong 02 gói giấy thu tại nền nhà phòng ngủ của Đỗ Trọng L là ma túy, có khối lượng 0,1031 gam, là loại Heroin.
Trần Văn Quyết, Đỗ Văn Thời, Nguyễn Văn Tự có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Quyết, Thời, Tự đều là người nghiện ma túy và cùng góp tiền để mua ma túy của Đỗ Trọng L để sử dụng cho bản thân. Quyết là người trực tiếp sử dụng điện thoại liên lạc với L để mua ma túy; Thời, Tự là người đi cùng Quyết đến nhà L mua ma túy. Cụ thể: Vào ngày 04/6/2018 Quyết và Tự mỗi người góp 100.000 đồng, Quyết là người cầm tiền, gọi điện cho L hỏi mua ma túy. Sau đó, Quyết và Tự cùng đến nhà L mua 01 gói ma túy loại Heroin để sử dụng chung. Đến ngày 05/6/2018, Quyết và Thời cũng góp mỗi người 100.000 đồng để đến nhà L tại xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mua ma túy về sử dụng. Khi L vừa bán ma túy cho Quyết, Thời thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKSTN ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đỗ Trọng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đỗ Trọng L như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Trọng L từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 6 năm 2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Trọng L. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 292/2018/PC54 và 01 bật lửa ga, 01 kéo, 02 ống hút nhựa màu xanh, 01 nỏ thủy tinh, 04 mảnh giấy bạc kích thước 7cm x 4cm, 01 dao lam, 10 mảnh giấy báo kích thước 3cm x 4cm (đều đã qua sử dụng); tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng và 02 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng. Truy thu số tiền 200.000 đồng Đỗ Trọng L bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn Quyết và Nguyễn Văn Tự vào ngày 04/6/2018. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Đỗ Trọng L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên. Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi bị cáo đã thực hiện, bản thân bị cáo tuổi cũng đã cao đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đỗ Trọng L tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số 292/KLGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo Đỗ Trọng L đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy (loại Heroin có khối lượng 0,0170 gam, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3328 gam) để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Đỗ Trọng L đã hai lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy vào các ngày 04, 05/6/2018 và bán cho nhiều người (Trần Văn Quyết, Đỗ Văn Thời, Nguyễn Văn Tự). Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Trọng L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như truy tố và đề nghị kết tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức của con người, là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Trọng L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bản thân bị cáo đã từng tham gia quân đội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đỗ Trọng L phạm tội rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xác định: Đối với 01 phong bì niêm phong chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 292/2018/PC54 là vật cấm L hành; 01 bật lửa ga, 01 kéo, 02 ống hút nhựa màu xanh, 01 nỏ thủy tinh, 04 mảnh giấy bạc kích thước 7cm x 4cm, 01 dao lam, 10 mảnh giấy báo kích thước 3cm x 4cm (đều đã qua sử dụng) là công cụ phạm tội nên cần cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Đỗ Trọng L vào ngày 05/6/2018 là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có; 02 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Đỗ Trọng L và Trần Văn Quyết là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Ngoài ra, Đỗ Trọng L còn được hưởng lợi số tiền 200.000 đồng do bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn Quyết, Nguyễn Văn Tự vào ngày 04/6/2018. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên buộc bị cáo phải nộp lại, sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Đỗ Trọng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, Trần Văn Quyết, Đỗ Văn Thời có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, nhân thân Quyết và Thời chưa có tiền án, tiền sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy thu giữ không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự; Nguyễn Văn Tự có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Thủy Nguyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn Quyết, Đỗ Văn Thời và Nguyễn Văn Tự. Đối với Đinh Chính Sáu, tài liệu điều tra xác định Sáu không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy cùng Đỗ Trọng L nên cơ quan điều tra không xử lý. Đối tượng bán ma túy cho Đỗ Trọng L, quá trình điều tra không các định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Đỗ Trọng L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 6 năm 2018.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 292/2018/PC54, 01 bật lửa ga, 01 kéo, 02 ống hút nhựa màu xanh, 01 nỏ thủy tinh, 04 mảnh giấy bạc kích thước 7cm x 4cm, 01 dao lam, 10 mảnh giấy báo kích thước 3cm x 4cm (đều đã qua sử dụng); tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng và 02 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 10 năm 2018 và biên lai thu tiền số 0000119 ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Buộc bị cáo Đỗ Trọng L phải giao nộp lại số tiền 200.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Trọng L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên; - Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên; - Trại giam Công an thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND cấp xã (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo; - L: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |