- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Hồng L; giữ nguyên bản án
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 122/2018/HS-PT |
Ngày: 22-3-2018.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các Thẩm phán:
1. Ông Đặng Hồng Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Khanh - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
66/2018/HSPT ngày 02/02/2018 đối với bị cáo Nguyễn Hồng L do có kháng
cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 198/2017/HSST ngày
27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hóc X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hồng L; sinh năm 1984 tại Thành phố
Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Tô K, khu phố 8, phường Đông Hưng T, Quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: tổ 8, khu phố 8, phường Đông Hưng T, Quận
9, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông:
Nguyễn Văn X; con bà: Nguyễn Thị Hồng Y; có vợ là Huỳnh Thị Phương Z;
tiền án: năm 2015 bị Tòa án nhân dân quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 59/HSST ngày 19/3/2015;
tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2003 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định
số 5138/QĐ ngày 07/5/2003; tạm giam: 16/8/2017 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 ngày 16/8/2017 tại trước khách sạn “Hoàng A” ấp A,
xã Thới Tam C, huyện Hóc X, tổ công tác Công an xã Thới Tam C, huyện
Hóc X kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hồng L đang cất giấu trái
phép chất ma túy chỗ gốc cột quầy lễ tân của khách sạn. Công an thu giữ 02
gói nylon chứa tinh thể không màu tại gốc cột L thừa nhận là của mình. Sau đó tiến hành khám xét nơi ở của L tại tổ 8, hẻm 211, phường Đông Hưng T, Quận 9 phát hiện thu giữ 03 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa chất bột màu xanh, 01 gói có 08 viên hình tròn có chữ V và chữ L chồng lên nhau.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc X L khai nhận bản
thân nghiện ma túy 06 tháng nay mục đích L mua cất giấu ma túy để sử dụng không nhằm bán cho ai. Số ma túy thu giữ của L mua của người thanh niên tên B (không rõ lai lịch) tại khu vực phường 5, Quận 3 với giá 2.500.000 đồng cất giấu đem đến khách sạn “Hoàng A” để sử dụng thị bị bắt. Số chất bột thu giữ tại nơi ở không phải là ma túy, L mua cất giữ mục đích trộn chơi sau khi sử dụng ma túy bị áo giác.
Vật chứng thu giữ:
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 30,6913 gram là
ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 03 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng có khối lượng 134,6798 gram, không tìm thấy ma túy; 01 gói nylon chứa chất bột màu xanh có khối lượng 36,6982 gram, không tìm thấy ma túy; 01 gói nylon có 08 viên hình tròn có chữ V và chữ L chồng lên nhau có khối lượng 3,4670 gram, không tìm thấy ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 01 xe gắn máy hiệu Vespa màu trắng biển số: 59D2-21059 (Biển số giả) Qua xác minh xe có biển số thật là 59G1-817.17 do anh Huỳnh Lê Anh K là chủ sở hữu Cơ quan điều tra đã giao trả cho anh K.
Tại bản kết luận giám định số: 1424/KLGĐ-H ngày 30/8/2017 của
Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
Gói 1: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên
ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Hồng L và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc X gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 30,6913 gram loại Methamphetamine.
Gói 2: Được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên
Nguyễn Hồng L và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc X gửi đến giám định, bên trong có: Bột màu trắng trong 03 gói nylon có khối lượng 134,6798 gram, khồng tìm thấy ma túy; Bột màu xanh 01 gói nylon có khối lượng 36,6982 gram, không tìm thấy ma túy; 08 viên hình tròn có chữ “VL” trong 01 gói nylon có khối lượng 3,4670 gram, không tìm thấy ma túy.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 198/2017/HSST ngày 27/12/2017 của
Tòa án nhân dân huyện Hóc X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm m, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46;
Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009:
Xử phạt: Nguyễn Hồng L 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
16/8/2017.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, phạt
tiền và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/01/2018 bị cáo Nguyễn Hồng L làm
đơn kháng cáo với nội dung xác định lại hành vi phạm tội và giảm nhẹ hình
phạt, cụ thể: Biên bản hỏi cung sơ sài, kết luận trùng khớp, xác định lại số
lượng ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo L, đại diện Viện Kiểm sát cấp phúc thẩm
xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình
phạt mới nào. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hồng L khai nhận hành vi
phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự
năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Hóc X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Hóc X, Kiểm sát viên, Tòa
án nhân dân huyện Hóc X, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào lúc 15 giờ 30 ngày 16/8/2017 tại trước khách sạn “Hoàng A”
tại ấp D, xã Thới Tam T, huyện Hóc X, tổ công tác Công an xã Thới Tam T,
huyện Hóc X kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hồng L đang cất giấu
trái phép chất ma túy chỗ gốc cột quầy lễ tân của khách sạn. Công an thu giữ
02 gói nylon chứa tinh thể không màu loại giám định là Methamphetamine
tại gốc cột L thừa nhận là của mình. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ
thẩm đã xét xử bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều
194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn
Hồng L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn khối lượng 30,6913 gram Methamphetamine. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo là có căn cứ. Đồng thời, tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/HSST ngày 19/3/2015 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, hành vi này là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), nên bị cáo bị xét xử thêm tình tiết định khung được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) như bản án sơ thẩm đã nhận định là có căn cứ. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin xét xử áp dụng pháp luật theo quy
định Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sủa đổi bổ sung 2017). Hội đồng xét xử nhận định như sau: Mức hình phạt khởi điểm được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là thấp hơn so với mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên, khối lượng ma túy làm căn cứ định khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 về khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ thì không có lợi. Do đó, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo về điều khoản áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm là phù hợp và có căn cứ đúng pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hồng L là phù hợp.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ xét bản án sơ thẩm đã áp dụng là đã xem xét,
cân nhắc cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới nào. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Bị cáo Nguyễn Hồng L nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng
hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Hồng L; giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Tuyên bố Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm m, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46;
Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009:
Xử phạt: Nguyễn Hồng L 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
16/8/2017.
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội buộc:
Bị cáo Nguyễn Hồng L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc
thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi"nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND TC;
(1)
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại TP.HCM;; (1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND huyện Hóc X;
(1)
- P.PC 53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Trại giam;
(2)
- Chi cục THA huyện Hóc X; (1)
- TAND huyện Hóc X;
(2)
- Công an huyện Hóc X;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
Nguyễn Thị Hà
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(3)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25)
(4)