- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết H và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khương Văn T; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo Khương Văn T được hưởn…
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/HS-PT Ngày 20/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Sơn
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Sơn và bà Nguyễn Thị Thu Từ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hà – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 141/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2018 đối vớ i bi ̣ cáo Nguyễn Viết H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Viết H, Khương Văn T, Phạm Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện A - tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo: 1. Nguyễn Viết H; sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn 3, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Viết Nam và bà Hồ Thị Hòa; có vợ là Phạm Thị Ngân và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/02/2018 đến ngày 21/02/2018; bị cáo tại ngoại.
2. Khương Văn T; sinh năm 1990; nơi cư trú: khối 4, thị trấn C,, huyện C, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Khương Văn Ngọc và bà Bùi Thị Thanh; có vợ là Lê Thị Thảo và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 21 tháng tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật”; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/02/2018 đến ngày 21/02/2018; bị cáo tại ngoại.
3. Phạm Văn T; sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn 2, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Hà và bà Nguyễn Thị Quế; có vợ là Võ Thị Đóa và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/02/2018 bị Công an xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/02/2018 đến ngày 21/02/2018.
Ngoài ra còn có 10 bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 30 phút đến 14 giờ 30 phút ngày 18/02/2018 tại nhà ở của Nguyễn Viết H tại thôn 3, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An – Nguyễn Viết H đa có hành vi rủ rê, chuẩn bị công cụ, tổ chức 02 chiếu bạc cho 14 đối tượng tham gia đánh bạc, thu tiền “Hồ” là 240.000 đồng và cùng trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các đối tượng Nguyễn Văn Sơn, Phạm Văn Phượng, Bùi Công Dũng, Phạm Văn Hoàng, Trần Văn Mạnh, Trần Kim Vĩnh, Nguyễn Viết Xuân, Trương Văn Chí, Khương Văn T, Nguyễn Viết Dũng, Hoàng Văn Thanh, Phạm Văn T bằng hình thức đánh “Liêng”, đặt tẩy thấp nhất là 10.000 đồng, phạt cao nhất là 100.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 21.780.000 đồng
Với nội dung trên , tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện A - tỉnh Nghệ An đa quyết đi ̣̃
nh:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm các tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc”; các bị cáo Khương Văn T, Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Khương Văn T 06 (Sáu) tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04 (Bốn) tháng tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử phạt 04 bị cáo khác mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, xử phạt phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với 06 bị cáo khác và tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 11/6/2018, các bị cáo Nguyễn Viết H, Khương Văn T, Phạm Văn T đều có đơn kháng cáo với nội dung: “Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho hưởng án treo”.
Tại phiên tòa, các bị cáo Khương Văn T, Phạm Văn T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; bị cáo Nguyễn Viết H chỉ kháng cáo xin hưởng án treo đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Viết H, Khương Văn T, Phạm Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Viết H, Khương Văn T, Phạm Văn T.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo . Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đa trự̃
c tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội nói chung và trên địa bàn huyện A, tỉnh Nghệ An nói riêng. Do đó Tòa án nhân dân huyện A - tỉnh Nghệ An đa xử phạt bị cáo Nguyễñ Viết Hung 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 22.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321, khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo Khương Văn T 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04 tháng tù đều về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 là nghiêm minh, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưở ng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
+ Đối với bị cáo Nguyễn Viết H có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố và ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương, Huy chương; bản thân bị cáo có nhân thân tốt – đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Nhưng xét bị cáo là người tổ chức đánh bạc cho các đối tượng khác trong vụ án để thu tiền “Hồ” là 240.000 đồng và đồng thời dùng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Mặc dù số tiền dùng để đánh bạc và số tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc là không nhiều nhưng xét trong cùng một lúc bị cáo phạm hai tội là “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
+ Đối với bị cáo Phạm Văn T: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương; bị cáo là người thờ cúng liệt sỹ, có anh trai là liệt sỹ; bản thân bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình sinh sống tại địa phương và được tặng thưởng Giấy khen – đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo sử dụng số tiền 3.700.000 đồng để đánh bạc là không nhiều nhưng xét ngày 07/02/2018 bị cáo bị Công an xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà đến ngày 18/02/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
+ Đối với bị cáo Khương Văn T: Năm 2010 đã bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 21 tháng tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật” nhưng đã được xóa án tích, từ đó đến thời điểm phạm tội “Đánh bạc” trong vụ án này thì thời gian cũng đã nhiều năm. Đáng lẽ cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhưng xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có thành tích giúp đỡ người dân trong lũ lụt, phòng chống tội phạm tại địa phương, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là không nhiều. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng, nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát giáo dục bị cáo và cho bị cáo cơ hội cải tạo bản thân.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phi : Bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T kháng cáo không được
́ chấp nhâ ̣n nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Khương Văn T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khương Văn T; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo Khương Văn T được hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/02/2018 đến ngày 21/02/2018; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04 (Bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/02/2018 đến ngày 21/02/2018.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Khương Văn T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Khương Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Khương Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Viết H, Phạm Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Khương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND, VKSND huyện A; - Cơ quan THAHS Công an huyện A; - CQĐT Công an huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - Các bị cáo Hùng, Tường, Tuấn; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa hình sự; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |