- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Chu Thị Như N về việc xin ly hôn anh Nguyễn Thanh P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122/2018/HNGĐ-ST Ngày 29 – 6 – 2018 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Trường.
2. Bà Tạ Thị Huế.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 305/2018/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị Như N; cư trú tại tổ 2, thôn 3, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P; cư trú tại đường số 5, khu tái định cư, khóm 4, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân, chị Chu Thị Như N và anh Nguyễn Thanh P chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2015 giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nguyên nhân theo chị N trình bày là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải vã với nhau, hiện chị với anh P đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Tại toà, chị N xác định không có tình cảm với anh P nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn. Đối với anh P, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về con chung, chị N khai có 01 người con là Nguyễn Gia Phát, sinh ngày 18/3/2014, hiện con đang chung sống với chị. Khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh P đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P.
Về hôn nhân, chị N và anh P chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên toà, chị N khai nhận mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau và mâu thuẫn ngày càng gay gắt, trầm trọng nên chị không thể tiếp tục chung sống với anh Phong được, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh P. Trường hợp Toà án giải quyết không cho chị ly hôn, chị cũng không trở về chung sống với anh P. Riêng anh P tuy đã được triệu tập hợp lệ, song anh vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, anh P không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của chị N. Cho nên, có cơ sở chấp nhận lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân là đúng.
Với mâu thuẫn chị N trình bày nêu trên, có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa chị N với anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kèo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị N về hôn nhân được chấp nhận.
Về con chung là Nguyễn Gia Phát - Sinh ngày 18/3/2014, hiện đang chung sống với chị N. Khi ly hôn, chị N nhận nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian giải quyết vụ án anh P đã được triệu tập hợp lệ và biết được nội dung yêu cầu của chị N nhưng anh P không đến Toà cũng không có ý kiến gì. Cho nên, chưa có căn cứ để xác định việc giao con cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Đối với việc cấp dưỡng, tuy Toà án có giải thích cho chị N biết việc cấp dưỡng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con nhưng chị N cho rằng chị có đủ điều kiện, khả năng để nuôi dưỡng con – đây là ý chí tự nguyện của chị N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, yêu cầu của chị N về con là có cơ sở.
Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có nên không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị N phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Chu Thị Như N về việc xin ly hôn anh Nguyễn Thanh P.
- Về con chung là Nguyễn Gia Phát, sinh ngày 18/3/2014. Hiện cháu Phát đang chung sống với chị Chu Thị Như N, tiếp tục giao cho chị N nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm anh Nguyễn Thanh P cấp dưỡng nuôi con.
Anh P có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung, chị Chu Thị Như N khai không có nên không xem xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Chu Thị Như N phải nộp số tiền là 300.000đ. Vào ngày 03/4/2018, chị N đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0000587 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Chị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - UBND phường 7, Tp.Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Lâm Hoài Ân |