vanban.org

Bản án 122/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị T yêu cầu ly hôn với Nguyễn Văn R"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/HNGĐ-ST
Ngày 27-6-2018
“V/v Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Minh.

Bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2018/TLST-HNGĐ ngày 16/3/2018 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phan Thị T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Nguyễn Văn R, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2018 và lời trình bày nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện: Vào năm 2005 chị T và anh R tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K (tại giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014 ngày 31/7/2014). Thời kỳ chung sống giữa chị T và anh R có 02 con chung tên: Nguyễn Phi T, sinh 29/8/2005 và Nguyễn Thảo D, sinh 19/6/2009 (Cháu D hiện đang sống với chị T, cháu T hiện đang sống với anh R).

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, anh R thường nhậu về kiếm chuyện đánh đập chị T nhiều lần, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân hơn 03 tháng cho đến nay, nhưng không có thiện chí hàn gắn trở lại.

Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh R. Về con chung chị T yêu cầu nuôi hết 02 con chung, không yêu cầu anh R cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa chị T yêu cầu con theo ai thì người đó có trách nhiệm nuôi.

- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Anh R thống nhất với lời trình bày của chị T về hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung là đúng sự thật.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân hơn 03 tháng cho đến nay, nhưng không có thiện chí hàn gắn trở lại.

Nay anh R không đồng ý ly hôn với chị T. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì con theo ai người đó nuôi. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 27/4/2018 của Tòa án đối với cháu Nguyễn Thúy D, sinh 19/6/2009 thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ (Phan Thị T).

Tại biên bản làm việc ngày 12/6/2018 của Tòa án đối với cháu Nguyễn Phi T, sinh 29/8/2005 thì cháu có nguyện vọng sống với cha (Nguyễn văn R).

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về mối quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn và nuôi con, do đó xác định mối quan hệ pháp luật giữa các đương sự là “Ly hôn và nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện T, nội dung tranh chấp là việc “Ly hôn và nuôi con”, nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về thủ tục: Tòa án có giao giấy triệu tập hợp lệ cho anh R 02 lần để xét xử nhưng anh R vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh R.

Xét về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau; nhưng chị T và anh R không làm được điều đó mà lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị T và anh R đã sống ly thân hơn 03 tháng cho đến nay, nhưng cả hai bên đều không có thiện chí hàn gắn trở lại và chị T thể hiện ý chí cương quyết ly hôn với anh R, do đó xác định chị T và anh R đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, nên cần chấp nhận cho ly hôn giữa chị T và anh R là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Xét về con chung: Tại biên bản làm việc cháu D có nguyện vọng sống với chị T, nên giao cháu D cho chị T nuôi dạy. Đối với cháu T có nguyện vọng sống với anh R nên giao cháu T cho anh R nuôi dạy là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh R, chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D và cháu T, không ai được cản trở anh R và chị T thực hiện quyền này và anh R và chị T phải tôn trọng quyền của cháu D được sống với chị T và cháu T được sống với anh R là phù hợp với Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về tài sản chung và nợ chung: Anh R và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Phan Thị T và Nguyễn Văn R.

- Về con chung: Giao cho chị T nuôi dạy cháu Nguyễn Thảo D, sinh 19/6/2009, anh R nuôi dạy cháu Nguyễn Phi T, sinh 29/8/2005. Chị T và anh R không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh R và chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D và cháu T không ai được cản trở anh R và chị T thực hiện quyền này và anh R phải tôn trọng quyền của cháu D được sống với chị T, chị T phải tôn trọng quyền của cháu T được sống với anh R.

2. Về án phí sơ thẩm:

Chị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị T đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số 0007962 ngày 16/03/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ