vanban.org

Bản án 1214/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/12/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1214/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 01/12/2021.
Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bích Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;

Ông Phạm Văn Hễ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân – Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 242/2021/TLST-HNGĐ

ngày 22/10/2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

5815/2021/QĐXXST-DS ngày 29/11/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ng, sinh năm 1979.

Địa chỉ: 15.08 Lô A, chung cư TDH, số 36, Đường số 4, Tổ 3, Khu phố 5,

phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Wu Shih-W, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 95 Thụy Xuân, Khóm 020, phường Thụy Nam, thành phố Cao Hùng,

Đài Loan, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện ngày 29/9/2021, nguyên đơn bà Lê Thị Ng

trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà Ng và ông Wu Shih-W kết hôn trên cơ sở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 1192, quyển số 06, ngày 13/5/2015. Sau

khoảng thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu

thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó ông Wu Shih-W quay về nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. bà Ng xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Wu Shih-W.

Về con chung: bà Ng khai bà và ông Wu Shih-W không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà Ng khai tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, bà Ng đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung Bản tự khai ngày 12/8/2021, bị đơn ông Wu Shih-W trình

bày: Ông Wu Shih-W xác nhận những lời trình bày của bà Ng về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà Ng yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn. Đồng thời, ông Wu Shih-W đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:

Xét thấy, bà Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Wu Shih-W và ông Wu

Shih-W hiện đang cư trú ở nước ngoài nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án về hôn nhân gia đình là đúng về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên

vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đơn xin vắng mặt 12/8/2021 của ông Wu

Shih-W đã được công chứng, chứng thực bởi Văn phòng công chứng viên nhân dân Hsiao, Tsung-Min thuộc Tòa án thành phố Cao Hùng, Đài Loan nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải

quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không

tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại

khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ng, Hội đồng xét xử

xét thấy:

Qua lời trình bày của bà Ng và ông Wu Shih-W, có cơ sở xác định: bà Ng và

ông Wu Shih-W có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 1192, quyển

số 06 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2015, tại thời

điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ

hôn nhân giữa bà Ng và ông Wu Shih-W là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian

chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, ông Wu Shih-

W đã định cư ở nước ngoài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày

càng phai nhạt, không có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Do hai bên

đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên không có khả năng đoàn tụ,

mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà Ng yêu cầu được ly hôn với ông Wu

Shih-W, ông Wu Shih-W cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự

thuận tình ly hôn của bà Ng và ông Wu Shih-W.

- Về con chung: bà Ng và ông Wu Shih-W không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà Ng và ông Wu

Shih-W tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không

xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về ly hôn trong vụ việc hôn nhân gia đình

là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị Ng phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4

Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị

Ng, sinh năm 1979 và ông Wu Shih-W, sinh năm 1984.

Giấy chứng nhận kết hôn số 1192, quyển số 06 do Ủy ban nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2021 cho bà Lê Thị Ng và ông Wu Shih-W hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: bà Ng và ông Wu Shih-W không có con chung.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: bà Ng và ông Wu

Shih-W tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ng phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn

trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Ng đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001029 ngày 18/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. bà Ng đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Wu Shih-W được quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bà Lê Thị Ng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ