- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1212/2019/QĐST-DS Ngày: 24/7/2019 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
Thư ký phiên toà:
Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:
Bà Phan Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 329/2019/TLST-DS ngày 21/02/2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2019/QĐXXST-DS ngày 12/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2019/QĐST-DS ngày 03/7/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam V
Trụ sở: pH Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Bùi Thị H (có mặt)
Địa chỉ: 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số 16459/2019/UQ-PGĐK ngày 15/4/2019).
Bị đơn : Bà Nguyễn Ngọc T (vắng mặt)
Địa chỉ: PH 24, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2018, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/12/2016 Ngân hàng TMCP Việt Nam Vvà bà Nguyễn Ngọc T ký kết Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ điện tử (hợp đồng tín dụng tín chấp). Ngày 12/12/2016, Ngân hàng đã gửi thông báo cho vay cho bà T với nội dung thỏa thuận như sau:
- Số tiền vay: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng);
- Mục đích vay: tiêu dùng;
- Thời hạn vay : 24 tháng, kể từ ngày 12/12/2016;
- Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân: 35%/tháng, mức lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01/, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/01/2017. Mức điều chỉnh lãi suất bằng: lãi suất bán vốn tương ứng với kỳ hạn khoản vay của khách hàng mà Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ điều chỉnh 27%/năm, lãi suất bán vốn là mức lãi suất do Hội sở chính của Ngân hàng xác định trong từng thời kỳ;
- Kế hoạch trả nợ: Bà Nguyễn Ngọc T phải trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 12 hàng tháng bắt đầu từ ngày 12/01/2017, tổng cộng là 24 kỳ;
Ngày 12/12/2016, Ngân hàng đã giải ngân khoản vay 200.000.000đồng cho bà Nguyễn Ngọc T.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà T đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền tổng cộng là 151.940.000 đồng, trong đó bao gồm 74.604.514 đồng tiền nợ gốc và 77.335.486 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 08/5/2018 đến nay bà T không thanh toán bất cứ khoản tiền nào khác cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho bà T trả nợ.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết thanh lý hợp đồng tín dụng ngày 06/12/2016 được ký kết giữa Ngân hàng và bà T. Buộc bà T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 221.944.923 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 125.395.486 đồng và 96.549.437 đồng tiền lãi tính đến ngày 24/7/2019, bà T phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2019 theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng bà T vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/5/2019, do bà T vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định.
Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định đối với các đương sự trong vụ án. Việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự phù hợp với qui định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự 2005; Điều 3, Điều 91 và Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền tổng cộng 221.944.923 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 125.395.486 đồng và 96.549.437 đồng tiền lãi, trả ngay 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Vvà bà Nguyễn Ngọc T là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – bà Nguyễn Ngọc T khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số Phường 24, quận Bình Thạnh. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 27/02/2019 của Công an P 24, quận Bình Thạnh, có cơ sở xác định bà Nguyễn Ngọc T có đăng ký hộ khẩu thường trú địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 03/7/2019 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 24/7/2019 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Nguyên đơn đề nghị chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngày 06/12/2016 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Ngọc T trả số tiền tổng cộng 221.944.923 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 125.395.486 đồng và 96.549.437 đồng tiền lãi, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn tại phiên toà cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền là 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn tiền nợ gốc 74.604.514 đồng và còn nợ số tiền nợ gốc là 125.395.486 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện trả nợ cho bị đơn. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc còn thiếu là phù hợp với quy định tại các Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T thanh toán lãi phát sinh tính đến ngày 24/7/2019 là 96.549.437 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận về lãi suất trong hạn và quá hạn, bà T không trả nợ vốn vay và lãi phát sinh theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất mà ngân hàng đã áp dụng phù hợp thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005.
Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Vì vậy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền là 221.944.923 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 125.395.486 đồng và 96.549.437 đồng tiền lãi tính đến ngày 24/7/2019 là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.
3.Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 427, Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005;
Áp dụng Điều 91 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban TH vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V.
Buộc bà Nguyễn Ngọc T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Vtổng số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng ngày 06/12/2016 là 221.944.923 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 125.395.486 đồng và 96.549.437 đồng tiền lãi tính đến ngày 24/7/2019.
Thời hạn thi hành: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 11.097.246 đồng (mười một triệu không trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm bốn mươi sáu đồng) bà Nguyễn Ngọc T nộp toàn bộ.
Hoàn số tiền tạm ứng án phí 4.610.000 đồng (bốn triệu sáu trăm mười ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V, theo biên lai thu số 0020333 ngày 01/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND TP. HCM; -VKSND quận Bình Thạnh; -THADS quận Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt |