- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Q tranh chấp ly hôn, con chung với anh Nguyễn Văn N."
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Q ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN - T. BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1210/2018/HNGĐ-ST Ngày : 22 - 11 - 2018 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Huy Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Long
2. Ông Dương Hiệp Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.
- Đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hoàng Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 774/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q
- Sinh năm: 1996
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N
- Sinh năm : 1992
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, TP. Q, tỉnh Bình Định.
(Chị Q có mặt tại phiên tòa, anh N vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2018 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thị Q trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện V, tỉnh Bình Định vào ngày 30/3/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh N đi làm nhưng không đưa tiền để chị nuôi con và không quan tâm chăm sóc gia đình. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn N có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình N, sinh ngày 15/5/2016. Hiện nay cháu Nguyễn Đình N đang sống với chị, sức khỏe tốt. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ.
Về tài sản chung: Chị và anh N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn N:
Tại phiên tòa hôm nay, anh N vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, theo bản khai ngày 10/9/2018, anh N công nhận thời gian tìm hiểu và điều kiện kết hôn như chị Q đã trình bày. Theo anh, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, đôi lúc vợ chồng có bất đồng nhưng tự khắc phục được. Vì vậy, Chị Q có đơn xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị Q. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung như chị Q trình bày, nếu ly hôn anh tự nguyện giao cháu Nguyễn Đình N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng; anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ. Về tài sản chung và nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 Luật HNGĐ 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Q về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn N và nuôi dưỡng con chung; Anh Nguyễn Văn N tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Đình N 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Các đương sự phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án (điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự).
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào nội dung tranh chấp của các đương sự, HĐXX xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” (khoản 1 Điều 28 BLTTDS), thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn (điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS).
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Q và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện V, tỉnh Bình Định vào ngày 30/3/2015, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa chị Q và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và không thể hàn gắn được. Vì vậy, chị Q đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh N không đến Tòa làm việc, mặc dù biết rõ Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Q với anh. Điều này chứng tỏ anh N không có thiện chí muốn hòa hợp. Đây cũng là trường hợp bị đơn cố tình lẫn tránh, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
HĐXX xét: Hôn nhân của chị Q, anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Q là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình N, sinh ngày 15/5/2016.
HĐXX xét: Hiện nay cháu Nguyễn Đình N đang sống với chị Q, sức khỏe tốt. Chị Q có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc con chung sau khi ly hôn. Đồng thời, tại bản khai ngày 10/9/2018 anh Nguyễn Văn N thống nhất giao cháu Nguyễn Đình N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Q giao cháu N cho chị Qui trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn N không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi con với chị Q số tiền là 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Đình N thành niên, là phù hợp với Điều 81, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về chia tài sản: Chị Q không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác nếu có yêu cầu.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chị Q phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm; Anh N phải chịu 300.000đ án phí DSST về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Q ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung cháu Nguyễn Đình N, sinh ngày 15/5/2016 cho chị Trần Thị Q được trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Anh Nguyễn Văn N phải đóng góp nuôi con với chị Q số tiền là 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng một tháng) cho đến khi cháu Nguyễn Đình N thành niên (đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: Chị Q, anh N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1. Chị Trần Thị Q phải chịu 300.000đ án phí, nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000075 ngày 06/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn. Chị Q đã nộp đủ án phí.
4.2. Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ án phí DSST về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. QN; - UBND xã C, huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Huy Huệ |