- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A D - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2026/HS-ST Ngày: 08-9-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phông.
Ông Dương Trung Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý A D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15/9/19xx tại xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai. CCCD số: 015068xxxx08; trình độ văn hóa: 9/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Nhà P (đã chết) và bà Giàng Thị D (đã chết); Vợ: Hờ Thị Tr, sinh năm 19xx; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2026 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch: Ông Lý A Hờ, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn Mý Háng Tâu, xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Ông Vừ A S, sinh năm 19xx. Trú tại: Thôn Tr, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/5/2026, Lý A D đi từ xã Mù Cang Chải về đến khu vực bãi rác thuộc thôn Thái, xã Khao Mang thì D gặp một người đàn ông tên Sình ở đường (trước đây D đã gặp Sình 02 lần), Sình giới thiệu là từ Thuận Châu, Mộc Châu đến (D không biết cụ thể). Do trước đây từng mua được ma túy của Sình nên khi gặp, D hỏi Sình còn Heroine không, còn thì bán cho 100.000đ, Sình trả lời vẫn còn. Sau đó D đưa cho Sình 100.000đ, Sình đưa lại cho D một gói Heroine to bằng đầu đũa được gói bằng nilon màu xanh. D cầm gói Heroine đi vào khu bãi rác lấy một nửa số Heroine đã mua được cho lên giấy bạc rồi dùng bật lửa bật lửa lên hơ dưới giấy bạc, khói bốc lên D đưa lên mũi và hít đưa vào cơ thể còn Sình đi đâu D không rõ. Số Heroine còn lại D mang về nhà cất giấu dưới gối giường ngủ trong buồng ngủ không cho ai biết, đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày hôm sau (12/5/2026) D lấy số Heroine còn lại dưới gối ra và sử dụng hết với cách thức như trước. Cả hai lần sử dụng trên, giấy bạc D đã xé nát và vứt đi. Do D là người đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nên ngày 14/5/2026 Công an xã Khao Mang tỉnh Lào Cai tiến hành triệu tập và Test nhanh ma túy đối với Lý A D, kết quả D dương tính với chất ma túy, Công an xã Khao Mang đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của D để giám định.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Lý A D thu giữ 01 bật lửa ga màu xanh, đen bạc đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số: 2590/KL-KTHS ngày 15/5/2026 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Lý A D, SN: 1968, trú tại: thôn H, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai thu giữ ngày 14/5/2026 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine.
Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong nước tiểu.
Morphine: Số thứ tự 81, Danh mục IIA, Nghị định số: 28/2026/NĐCP ngày 19/01/2026 của Chính phủ.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về nội dung bản Kết luận giám định nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSLCI-KV ngày 21 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố Lý A D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4
- Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng d khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lý A D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
+ Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa ga màu xanh, đen bạc đã qua sử dụng, 01 phong bì niêm phong, bên trong có que test ma túy của Lý A D.
+ Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
+ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lý A D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối đáp gì với Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh:
Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với Biên bản vụ việc, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 11/5/2026, Lý A D sau khi mua được 01 gói Heroine với giá 100.000đ, D đã đi vào khu bãi rác thuộc thôn Thái, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai lấy một nửa số Heroine đã mua được cho lên giấy bạc rồi dùng bật lửa bật lửa lên hơ dưới giấy bạc khói bốc lên D đưa lên mũi và hít đưa vào cơ thể, tiếp đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày hôm sau (12/5/2026) tại nơi ở của mình D lấy số Heroine còn lại dưới gối ra và sử dụng hết với cách thức như trước.
Do Lý A D là người đang tham gia điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Quyết định số: 40/QĐ-UBND ngày 17/11/2025 của UBND xã Khao Mang, tỉnh tỉnh Lào Cai. Ngày 30/4/2026, Lý A D tự ý chấm dứt việc tham gia điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Trung tâm Y tế khu vực Mù Cang Chải đã ban hành Thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lý A D. Ngày 11-12/5/2026 D tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại khu bãi rác thuộc thôn Thái, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai và nơi ở của mình thuộc thôn H, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai.
Hành vi của bị cáo Lý A D đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Lý A D là chính xác, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Xét hành vi của bị cáo:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
- Xét nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có sức khỏe, có khả năng điều khiển mọi hành vi hoạt động của bản thân, nhận thức được việc Sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo đã 02 lần sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 11-12/5/2026 tại khu bãi rác thuộc thôn Thái, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai và nơi ở của mình thuộc thôn H, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khai ra hành vi phạm tội trước đó. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Các vấn đề khác:
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 bật lửa ga màu xanh, đen bạc đã qua sử dụng, 01 phong bì niêm phong, bên trong có que test ma túy của Lý A D. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên Sình đã bán ma túy cho D, D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp.
Đối với Giàng Páo Giàng là người D khai đã bán ma túy cho D, ngoài lời khai của D không có tài liệu khác chứng minh cho hành vi bán ma túy của Giàng nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xử lý đối với Giàng là phù hợp.
. Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lý A D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo D 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 20/5/2026.
3. Về vật chứng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng tại Phiếu nhập kho vật chứng số: 67/PNK ngày 27/5/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai với Phân trại tạm giam Văn Chấn- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai như sau:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa ga màu xanh, đen bạc đã qua sử dụng, 01 phong bì niêm phong, bên trong có que test ma túy của Lý A D.
(Tình trạng vật chứng có đặc điểm như trong Phiếu nhập kho vật chứng nêu trên).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A D.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lý A D được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4 - Lào Cai; - Cơ quan CSĐT (PC 04), CA tỉnh Lào Cai; - Phòng HS Nghiệp vụ, CA tỉnh Lào Cai. - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2, CA tỉnh Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã Khao Mang (TB); - Công an xã Khao Mang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tiến Phúc |