- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Tuân l - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2026/HS-ST Ngày 14 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Tam; ông Vũ Văn Thuật
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Tuân L, sinh năm 1994, tại xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La;
Nơi cư trú: Bản B, xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Cà Văn D (đã chết) và bà Cà Thị X; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2025 cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị X, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Bản B, xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 10 ngày 18/12/2025 Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Kh chủ trì, phối hợp với Phòng Nghiệp vụ thuộc Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La, Đồn Biên phòng Mường Cai làm nhiệm vụ tại bản Cát, xã Mường Hung, tỉnh Sơn La phát hiện 02 người đàn ông đang điều khiển 01 xe mô tô đi theo hướng từ bản Nà Ngần đi bản Cát, cùng xã Mường Hung có biểu hiện nghi vấn về tội phạm nên tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra người điều khiển xe khai nhận tên là Cà Tuân L, sinh năm 1994 và người ngồi sau tên là Cà Văn Quý, sinh năm 2000, cùng trú tại bản B, xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác bên phải đang mặc trên người của Cà Tuân L có 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng (L khai nhận là Hồng phiến mục đích về sử dụng). Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Cà Tuân L 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng nghi là Hồng phiến; Tạm giữ của L 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCTIER màu đen, biển kiểm soát 26C1-157.40 xe đã qua sử dụng. Qua làm việc với Cà Tuân L và Cà Văn Quý, xác định Quý không biết việc L cất giấu ma túy trong người, bản thân Quý không sử dụng ma túy và không thuộc đối tượng quản lý người sử dụng trái phép ma túy nên Đồn Biên phòng không tạm giữ hình sự đối với Cà Văn Quý.
Ngày 19/12/2025 tại tổ địa bàn Sông Mã thuộc Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định kết quả: 03 viên nén màu hồng cân tịnh có khối lượng 0,30 gam, trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu L.
Kết luận số 55/KL-KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,30 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Cà Tuân L khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ 30 ngày 18/12/2025, Cà Tuân L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26C1-157.40, từ nhà ở Bản B, xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La đến gặp Cà Văn Quý, sinh năm 2000 đang ở nhà vợ thuộc bản Hát So, xã Mường Hung, tỉnh Sơn La để đi tìm việc làm thuê bốc vác. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày, L điều khiển xe mô tô của L chở Quý đến xin việc tại kho bốc sắn thuộc ở bản Nà Ngần. L đứng ở ngoài đường, Quý đi vào bên trong hỏi xin việc. Trong lúc L đang ở ngoài thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, qua trò chuyện L hỏi mua 100.000 đồng (tiền do L lao động tiết kiệm mà có) Hồng phiến thì được người phụ nữ đồng ý nhận tiền rồi đưa cho L 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 03 viên hồng phiến. Mua được ma túy, L cất số ma tuý đó vào túi áo khoác bên phải đang mặc không nói cho Quý biết. Sau khi Quý vào chỗ xin việc ra, L điều khiển xe mô tô chở Quý quay về. Trên đường về đến khu vực bản Cát, xã Mường Hung thì gặp tổ công tác của Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Kh phối hợp với Phòng Nghiệp vụ, Đồn Biên phòng Mường Cai làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang đối với Cà Tuân L, thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ phương tiện liên quan.
Cáo trạng số 71/CT-VKSSL-KV ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La để xét xử bị cáo Cà Tuân L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).
Tại phiên tòa, bị cáo Cà Tuân L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Cà Tuân L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).
Xử phạt bị cáo Cà Tuân L từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 10 tháng tù;
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị X 01 mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCTIER màu đen, BKS 26C1-157.40
Về án phí: Bị cáo Cà Tuân L là người dân tộc, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Cà Tuân L không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cà Thị X đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 18/12/2025 bị cáo Cà Tuân L đã có hành vi tàng trữ 0,30 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025); phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Cà Tuân L thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025), có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 10 tháng tù là hơi nghiêm khắc. Do đó Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực thuộc bản Nà Ngần, xã Mường Hung, tỉnh Sơn La vào ngày 18/12/2025. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Quá trình bắt giữ người trong trường hợp quả tang, Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Kh tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể qua nước tiểu đối với Cà Tuân L, Cà Văn Quý. Kết quả Quý âm tính với ma túy, Cà Tuân L dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Tuy nhiên Cà Tuân L không phải là đối tượng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu xanh là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với chiếc 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter biển kiểm soát 26C1-157.40 thu giữ của bị cáo Cà Tuân L. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đứng tên sử hữu là Cà Tuân L, kết quả tra cứu chiếc xe máy không phải là vật chứng trong vụ án khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị X trong đơn xin lại tài sản trình bày: Chiếc xe mô tô nêu trên do bà và chồng là ông Cà Văn Dũng (đã chết) đưa tiền cho con là Cà Tuân L đi mua và đứng tên đăng ký xe để phục vụ làm phương tiện đi lại của gia đình. Ngày 18/12/2025 Cà Tuân L sử dụng xe mô tô và có hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma tuý thì bà X không biết. Bà Cà Thị X đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô, nên cần chấp nhận và trả lại cho bà X chiếc xe mô tô nêu trên.
Về án phí: Bị cáo Cà Tuân L là người dân tộc, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Cà Tuân L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cà Tuân L 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị X 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển kiểm soát 26C1-157.40; số khung 0610HY502503; số máy: G3D4E524924, xe có gương chiếu hậu bên trái, tình trạng xe đã cũ, đã qua sử dụng.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 62/QĐ-VKS ngày 31/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 40 phút ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Cà Tuân L được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2026).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS nhân dân khu vực 3 - Sơn La (03); - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - THAHS; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |