vanban.org

Bản án 121/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lê Việt T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tôi: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 06/8/2024. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Việt T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tôi: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HS-ST
Ngày: 21-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn S

2. Bà Trần Thị L

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2025/HS-QĐST ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Việt T, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1993, tại Ninh Thuận. Nơi đăng ký thường trú: 458A khu phố 21, phường Thới An, Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh, chổ ở: Nhà không số, ấp 3, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình đô học vấn: 11/12; dân tôc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam, con ông Lê Việt D (chết) và bà Trần Ánh L, sinh năm 1964; anh chị em ruôt có 03 người kể cả bị cáo, con có 04 người lớn nhất sinh năm 2010 nhỏ nhất sinh năm 2022, tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nôi dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Việt T nghiện ma túy đá từ tháng 7/2023 nên mua ma túy về bán lại cho người nghiện để kiếm lời. Ngày 29/7/2024, Thùy đến khu vực Bình Tân mua của đối tượng tên Tân (chưa xác định lai lịch) 50 số ma túy đá với giá 2.500.000 đồng đem về nhà tại tại địa chỉ nhà không số, ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu ở trên máy giặt để bán cho người nghiện. Khoảng 16 giờ ngày 06/8/2024, Thạch Trường A đến nhà T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Thùy lấy gói ma túy chiết ra 02 gói nylon để bán cho A. Số ma túy còn lại tiếp tục cất giấu vào chỗ cũ. Sau đó T cầm trên tay 02 gói nylon có chứa tinh thể là ma túy đá (ký hiệu m1) đi bô ra trước cửa nhà để giao cho A thì bị Công an xã Xuân Thới Thượng phát hiện lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của T thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2), 01 bô dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cân tiểu ly.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận đã bán ma túy cho A 02 nhiều lần nhưng chỉ nhớ hai lần gân nhất là vào ngày 03/8/2024 và ngày bị bắt quả tang, mỗi lần mua bán ma túy với giá 200.000 đồng. Lời khai của T, A phù hợp với nhau. T khai thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy khoảng 4.000.000đồng.

Kết luận giám định số 9427/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an TP.Hồ Chí Minh kết luận:

Gói 1: Tinh thể được ký hiệu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2224g (không phẩy hai hai hai bốn gam) loại Methamphetamine.

Gói 2: Tinh thể được ký hiệu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2017g (môt phẩy hai không môt bảy gam) loại Methamphetamine

Vật chứng thu giữ:

- 02 gói niêm phong số 2886/24 là ma túy còn lại sau giám định;

- 02 điện thoại di đông gồm: hiệu Iphone 11 Promax màu xanh; Số Imei 1: 353904104607870; Số Imei 2: 353904104570110 và hiệu Samsung A03 màu xanh; Số Imei 1: 350538282935670; Số Imei 2: 359923672935673; có gắn sim số: 0903445027, T dùng liên lạc mua bán ma túy;

- 01 bô dụng cụ sử dụng ma túy đá;

- 01 cân tiểu ly;

Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS H.HM ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Việt T về tôi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bô luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tôi như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề nghị Hôi đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Lê Việt T về tôi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hôi đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi 04 người con nhỏ nhất sinh năm 2022, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bô luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bô luật Hình sự

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bô luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08(tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tôi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng (năm triệu) đến 10.000.000 đồng (mười triệu).

Buôc bị cáo nôp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ 2886/24(7517) bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 bô dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 cân tiểu ly;

-Tịch thu nôp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di đông gồm hiệu Samsung A03 màu xanh; Số Imei 1: 350538282935670; Số Imei 2: 359923672935673; có gắn sim số: 0903445027, T dùng liên lạc mua bán ma túy; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu xanh; Số Imei 1: 353904104607870; Số Imei 2: 353904104570110 không liên quan đến vụ án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trình bày lời nói sau cùng bị cáo hối hận việc đã làm, do hoàn cảnh khó khăn túng thiếu, chồng bị cáo không quan tâm bỏ mặc bị cáo phải nuôi 04 người con nên bị cáo suy nghĩ nông cạn, nên xin Hôi đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin không đóng tiền phạt vì hiện bị cáo bị bắt là gánh nặng cho gia đình bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nôi dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hôi đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bô luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy cất giấu bán cho người khác kiếm lời, bị cáo bị phát hiện và bắt quả tang lúc 16 giờ ngày 06/8/2024 khi bị cáo đang chuẩn bị giao ma túy cho người mua là Thạch Tường A thì bị Công an xã Xuân Thới Thượng tại trước nhà không số ấp 3 xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn.Tại Cơ quan điều tra bị cáo Lê Việt T khai nhận bị cáo nghiện ma túy nên vào tháng 7/2023 bắt đầu mua bán ma túy về bán lại cho các người nghiện kiếm lời. Ngày 29/7/2024, T đến khu vực Bình Tân mua của đối tượng tên Tân (chưa xác định lai lịch) 50 số ma túy đá với giá 2.500.000 đồng đem về nhà tại địa chỉ nhà không số, ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu ở trên máy giặt để bán cho người nghiện. Khoảng 16 giờ ngày 06/8/2024, Thạch Trường An đến nhà T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. T lấy gói ma túy chiết ra 02 gói nylon để bán cho A. Số ma túy còn lại tiếp tục cất giấu vào chỗ cũ. Sau đó T cầm trên tay 02 gói nylon có chứa tinh thể là ma túy đá (ký hiệu m1) đi bô ra trước cửa nhà để giao cho A thì bị Công an xã Xuân Thới Thượng phát hiện lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang. Bị cáo T khai đã bán cho A lần gần nhất là ngày 03/8/2024 và ngày 06/8/2024 bán tiếp cho A, chuẩn bị giao thì bị bắt.

Nôi dung khai nhận của bị cáo Bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy; có đủ cơ sở chứng minh bị cáo Lê Việt T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng số 126/CT-VKS H.HM ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Việt T về tôi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bô luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 251 Tôi mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

b) Phạm tôi 02 lần trở lên

…..

5. Người phạm tôi còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu môt phần hoặc toàn bô tài sản.”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tôi của bị cáo Châu Đại Phú thuôc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, là chất cấm lưu hành làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến được pháp luật bảo vệ, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Hôi đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho bị cáo để Quyết định hình phạt tương xứng với tính chất mức đô của bị cáo như sau:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bô luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là phụ nữ, có hoàn cảnh khó khăn nuôi 04 người con, người còn nhỏ nhất sinh năm 2022, khi xem xét quyết định hình phạt Hôi đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bô luật Hình sự cho bị cáo

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bô luật Hình sự;

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, có hoàn cảnh khó khăn nên Hôi đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo

Về thu lợi bất chính: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số tiền thu lợi bất chính trong quá trình mua bán ma túy là 1.200.000 đồng, cần buôc bị cáo nôp lại số tiền thu lợi bất chính là phù hợp.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hôi đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Thạch Trường A là người nghiện mua ma túy của T để sử dụng cho bản thân nhưng chưa nhận được ma túy và chưa trả tiền nên chưa có căn cứ xử lý hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Cơ quan điều tra đã giao cho Công an xã Xuân Thới Thượng xử lý.

Xử lý vật chứng: Xét thấy;

- Đối với 01 gói niêm phong ghi số vụ 2886/24 bên trong là ma túy còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy và 01 bô dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 cân tiểu ly không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

- Đối với điện thoại di đông: Bị cáo T sử dụng điện thoại điện thoại di đông hiệu Samsung A03 màu xanh; Số Imei 1: 350538282935670; Số Imei 2: 359923672935673; có gắn sim số: 0903445027 vào việc liên lạc mua bán ma túy, cần tịch thu nôp ngân sách nhà nước; 01 điện thoại di đông hiệu Iphone 11 Promax màu xanh; Số Imei 1: 353904104607870; Số Imei 2: 353904104570110 không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo

Trách nhiệm dân sự: không có.

Về án phí: Bị cáo Lê Việt T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bô luật hình sự;

2. Căn cứ vào đểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 Bô luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bô luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hôi quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Bị cáo Lê Việt T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tôi: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 06/8/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Thu lợi bất chính: Buôc bị cáo Lê Việt T nôp số tiền 1.200.000 đồng (môt triệu hai trăm ngàn) nôp vào Ngân sách nhà nước. Nôp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 2886/24; 01 bô dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 cân tiểu ly.

-Tịch thu nôp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di đông hiệu Samsung A03 màu xanh; Số Imei 1: 350538282935670; Số Imei 2: 359923672935673; có gắn sim số: 0903445027.

- Trả lại cho bị cáo Lê Việt T 01 điện thoại di đông hiệu Iphone 11 Promax màu xanh; Số Imei 1: 353904104607870; Số Imei 2: 353904104570110.

(Hiện vật chứng do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/5/2025 theo Quyết định chuyển vật chứng số 110/QĐ-VKS-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).

4. Án phí: Bị cáo Lê Việt T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ