- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý và “Tổ chức sử dụng trái phép chât ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:121/2025/HS-ST Ngày: 29 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Mai
2. Bà Lê Thị Kim Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2025/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:
1/ Họ và tên: Phan Tấn T; Giới tính: Nam, Tên gọi khác: không
Sinh ngày: 05/01/1980 tại: Thành phố H
Nơi ĐKHKTT: số 60/9 đường L, Phường 11, quận G, Thành phố H.
Nơi ở: số 11/7 đường N, Phường 11, quận G, Thành phố H.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc : Kinh; Tôn giáo: Không
Học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không
Họ tên cha : Phan Tấn C - sinh năm: 1957
Họ tên mẹ : Hồ Thị Hồng V - sinh năm: 1961
Vợ: Phạm Thuỳ D - sinh năm: 1983
Bị can có 02 con đều sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: ngày 23/2/2005, bị Toà án nhân dân quận G, Thành phố H xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành tại trại giam X, tỉnh Đ. Đến ngày 22/01/2007 thì chấp hành xong (đã xoá án tích).
Bị cáo bị bắt ngày 06/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực quận G. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/08/2024, Phan Tấn T thuê xe ôm đi từ nhà địa chỉ số 11/7 đường , Phường 11, quận G đến khu vực cầu vượt ngã tư ga ở Quận M, Thành phố H để mua ma tuý. Khi đến nơi, Tiền gặp một người nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua ma tuý đá với số tiền là 1.500.000 đồng thì người này đồng ý bán và nhận tiền, sau đó hướng dẫn T đến khu vực dưới chân cầu vượt chỗ trồng cây cảnh của cầu để lấy ma tuý. T làm theo hướng dẫn và lấy được 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon chứa ma tuý. Sau đó, T thuê xe ôm đi về nhà tại địa chỉ số 11/7 đường N, Phường 11, quận G, Thành phố H. Tại nhà, T có lấy một ít ma tuý vừa mua được ra sử dụng một mình, số ma tuý còn lại T cất giấu tại kệ ti vi trên tầng một. Sau đó, có 03 người nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) nhắn tin qua số điện thoại 0906XXXXXX của T hỏi mua ma tuý thì T đồng ý rồi lấy ma tuý chia nhỏ làm 03 gói nylon để bán. T đã bán ma tuý cho 03 người (không rõ lai lịch) nhưng không nhớ bán vào thời gian, địa điểm nào và thu lợi được bao nhiêu. Đến khoảng 12 giờ ngày 05/08/2024, T đang ở nhà một mình thì Hồ Trọng T đến nhà chơi. Lúc này, T đang sử dụng ma tuý tại phòng ngủ nên đã rủ Hồ Trọng T cùng sử dụng ma tuý, Hồ Trọng T đồng ý. T không yêu cầu Hồ Trọng T góp tiền hay phải trả tiền cho T để cùng sử dụng ma tuý. Toàn bộ ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý do T tự nguyện bỏ ra để cho Hồ Trọng T cùng sử dụng. Trong lúc sử dụng ma tuý cùng với Hồ Trọng T thì một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) nhắn tin vào số điện thoại 0906XXXXXX của T hỏi mua ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng và xin nợ tiền mua ma tuý để trả sau. T đồng ý bán và hẹn người này đến nhà để giao ma tuý. Một lúc sau, người này gọi điện thoại nói là đã đến gần nhà nên T đã lấy một phần ma tuý dùng cân tiểu ly điện tử cân ra 02 số rồi cho vào một gói nylon hàn kín lại và ném ra ngoài qua cửa sổ xuống dưới nền đất trước nhà để bán cho người này, số ma tuý đá còn lại T để lại vào kệ ti vi. Lúc này, Tổ công tác Công an quận G và Công an Phường 11, quận G đến kiểm tra nhà và đã thu giữ ở dưới nền đất trước nhà 01 gói nylon chứa ma tuý mà T đã ném ra ngoài cửa sổ nên đã thu giữ toàn bộ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ cụ thể như sau:
Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm Gói 01: tinh thể (m1) có khối lượng 0,7525 gam và Gói 02: tinh thể (m2) có khối lượng 0,1926 gam.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sim: 0906XXXXXX;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, không có sim;
- 01 bình thuỷ tinh;
- 01 nỏ thuỷ tinh;
- 04 ống thuỷ tinh;
- 01 túi nylon;
- 01 bình gas hiệu Blue Star;
- 01 cân điện tử hiệu Pocket Scale;
- 01 ống hút nhựa.
Căn cứ Kết luận giám định số 9354/KL ngày 14/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H kết luận:
+ Gói 1: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,8845 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 2: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,2314 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKSGV, ngày 08/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H đã truy tố Phan Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 255; của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Tấn T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội danh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) đến 06 (sáu) năm tù.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ Gói 1: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,8845 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 2: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,2314 gam, loại Methamphetamine.
Gói 01: tinh thể (m1) có khối lượng 0,7525 gam và Gói 02: tinh thể (m2) có khối lượng 0,1926 gam.
- 01 bình thuỷ tinh;
- 01 nỏ thuỷ tinh;
- 04 ống thuỷ tinh;
- 01 túi nylon;
- 01 ống hút nhựa.
Tịch thu sung công Quỹ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sim: 0906XXXXXX;
- 01 bình gas hiệu Blue Star;
- 01 cân điện tử hiệu Pocket Scale;
Trả lại cho bị cáo T:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, không có sim;
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với Kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận G và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 04/8/2024 bị cáo Phan Tấn T liên hệ với người bán ma túy (chưa rõ lai lịch) mua ma túy đá với sồ tiền 1.500.000 đồng, khi mua được bị cáo T đem về nhà cất dấu và lấy ra một ít để sử dụng. với số ma túy mua được thì có 3 người (chưa rõ lai lịch) liên hệ ( nhắn tin) với bị cáo T hỏi mua ma túy thì bị cáo T đồng ý rồi lấy ma túy chia nhỏ thành 3 gói bán với giá 300.000 đồng.
Ngày 05/8/2024 có một nam thanh niên nhắn tin hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng nhưng xin nợ để trả sau, bị cáo T đồng ý và chuẩn bị sẵn 2 gói khi người mua gọi điện nói đến thì bị cáo ném 2 gói ma túy xuống cho người mua. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với tội hành vi tổ chức và sử dụng trái phép chất ma túy:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 05/08/2024, tại địa chỉ 11/7 N, Phường 11, quận G, Thành phố H, bị cáo Phan Tấn T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng (tại nhà) bị cáo đã chuẩn bị địa điểm tại nhà bị cáo và công cụ và các công cụ cho việc hút hít đồng thời còn rủ rê ông Hồ Trọng T cùng sử dụng ma túy. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó Cáo trạng số 172/CT-VKSGV, ngày 08/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận G đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Phan Tấn T phạm hai tội nên cần thiết áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc mua bán, sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra, kể cả việc trừng trị của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận G cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 5 Điều 255, khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án nên quyết định miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ Gói 1: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,8845 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 2: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,2314 gam, loại Methamphetamine.
Gói 01: tinh thể (m1) có khối lượng 0,7525 gam và Gói 02: tinh thể (m2) có khối lượng 0,1926 gam.
- 01 bình thuỷ tinh;
- 01 nỏ thuỷ tinh;
- 04 ống thuỷ tinh;
- 01 túi nylon;
- 01 ống hút nhựa.
Tịch thu sung công Quỹ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sim: 0906XXXXXX;
- 01 bình gas hiệu Blue Star;
- 01 cân điện tử hiệu Pocket Scale;
Trả lại cho bị cáo T:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, không có sim;
Về các vấn đề khác:
Đối với Hồ Trọng T là đối tượng được bị cáo T cho sử dụng ma túy chung mà không bỏ tiền chung mua sử dụng với bị cáo T nên không đủ căn cứ xử lý hình sự với vai trò đồng phạm. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ của Hồ Trọng T cho Công an Phường 12, quận G để xử lý hành chính theo đúng quy định pháp luật là có cơ sở.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo T cũng như bị cáo T bán ma túy cho 04 đối tượng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào xác định được sẽ đề nghị xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý và “Tổ chức sử dụng trái phép chât ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Tấn T 02 (hai) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội danh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/8/2024.
2. Về sử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ Gói 1: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,8845 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 2: tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,2314 gam, loại Methamphetamine.
Gói 01: tinh thể (m1) có khối lượng 0,7525 gam và Gói 02: tinh thể (m2) có khối lượng 0,1926 gam.
- 01 bình thuỷ tinh;01 nỏ thuỷ tinh; 04 ống thuỷ tinh; 01 túi nylon; 01 ống hút nhựa.
Tịch thu sung công Quỹ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sim: 0906XXXXXX; 01 bình gas hiệu Blue Star; 01 cân điện tử hiệu Pocket Scale.
Trả lại cho bị cáo T:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, không có sim;
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 18/PNK ngày 14/01/2025 của Công an quận G).
3. Về án phí hình sự sơ thầm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. H; - VKSND TP. H; - VKSND Q. G; - Thi hành án Q. G; - Trại giam C phân trại tạm giam khu vực quận G; - Các bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã kí) Lê Thành Phong |