vanban.org

Bản án 121/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Cho Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Trương Hồng C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều M, sinh ngày 24/3/2009 và Nguyễn Hà M1, sinh ngày 25/11/2011 cho anh Nguyễn Văn Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trương Hồng C không trực tiếp nuôi con chung có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Đ - Trương Hồng C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 – 5 - 2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Công Đoàn

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 127/2025/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: ấp TB, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Trương Hồng C, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: ấp TĐ, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh với chị Chi chung sống năm 2008, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Thân tộc hai bên có hòa giải hàn gắn, nhưng chị C không khắc phục. Vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị C.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Nguyễn Kiều M, sinh ngày 24/3/2009 và Nguyễn Hà M1, sinh ngày 25/11/2011 hiện đang sống cùng anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và các vấn đề khác: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Đối với chị Trương Hồng C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của anh Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung với chị Trương Hồng C là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ, chị C.

Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2008, anh Đ với chị C kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa anh Đ với chị C được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo anh Đ xác định, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân trong khoảng thời gian dài, nhưng chị C không có ý kiến. Như vậy, Hội đồng xét xử khẳng định trong cuộc sống vợ chồng giữa anh Đ với chị C đã có những mâu thuẫn không thể hàn gắn được là thực tế có xãy ra. Đồng thời, mâu thuẫn đó đã lâm vào tình trạng trầm trọng, dẫn đến cuộc sống chung không thể kéo dài, và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ về quan hệ hôn nhân.

Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, cháu Kiều M đã hơn 16 tuổi và cháu Hà M1 đã hơn 13 tuổi hiện đang sống cùng anh Đ. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng, nhưng chị C không có ý kiến. Xét thấy: Theo nguyện vọng của cháu Kiều M và Hà M1 thể hiện cháu có nguyện vọng được sống với cha. Do đó, để tránh thay đổi về môi trường sống, cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và điều kiện học của 02 cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ về con chung.

Xét về tài sản chung và các vấn đề khác: Anh Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, tuy nhiên chị C không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xét về án phí dân sự và án phí cấp dưỡng: Anh Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 của Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Trương Hồng C.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều M, sinh ngày 24/3/2009 và Nguyễn Hà M1, sinh ngày 25/11/2011 cho anh Nguyễn Văn Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trương Hồng C không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002827 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; anh Nguyễn Văn Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ