vanban.org

Bản án 121/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A. Buộc bị đơn bà Trần Thùy Tr trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền là 18.473.477 đồng (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 8.684.512 đồng (Tám tri… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "T/c hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/DS-ST
Ngày: 14/9/2025
“ V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phương Văn Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Út Hậu.

2. Bà Bùi Thanh Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh – Thư ký tòa án.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2025/QĐST-DS ngày 29/8/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A.

Địa chỉ: Số X, phường Võ Thị Sáu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số X, phường Xuân Hòa, thành phố Hồ Chí Minh).

Đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phi C(có mặt).

Địa chỉ: Số AB, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (nay là Số AB, xã Thới Lai, thành phố Cần Thơ).

- Bị đơn: Bà Trần Thùy Tr, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực TH, phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (nay là Khu vực TH, phường Ô Môn, thành phố Cần Thơ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần A (có ông Nguyễn Phi C đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Ngày 22/5/2020 bà Trần Thùy Tr có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần A – Phòng giao dịch Ô Môn (sacombank) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), căn cứ thu nhập của bà Tr, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Tr đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 9.000.000 đồng. Trong quá trình sử dung thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Tr đã thanh toán cho ngân hàng Sacombank số tiền 11.980.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Tr vẫn không thiện chí trả nợ. Do bà Tr vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 20/7/2023 ngân hàng Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 22/10/2024 bà Trần Thụy Tr còn nợ các khoản sau: Nợ gốc 8.684.512 đồng, lãi quá hạn 5.861.368 đồng. Tổng cộng 14.545.880 đồng.

Do đó, ngân hàng Sacombank khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:

Buộc bà Trần Thùy Tr phải trả cho ngân hàng Sacombank tính đến ngày 22/10/2024 là 14.545.880 đồng. Trong đó: Nợ gốc 8.684.512 đồng; lãi quá hạn: 5.861.368 đồng.

Buộc bà Trần Thùy Tr phải trả cho ngân hàng tiền lãi suất phát sinh từ ngày 23/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, thông báo, niêm yết các Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự hợp lệ đối với bị đơn bà Trần Thùy Tr để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng bà Trần Thùy Tr vắng mặt nhiều lần không có lý do. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207, Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, đại diện ngân hàng yêu cầu ông Trần Thùy Tr thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 14/9/2025 là 18.473.477 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 8.684.512 đồng; Nợ lãi quá hạn: 9.788.965 đồng và yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi suất kể từ ngày 15/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất trong hợp đồng mà các bên đã ký kết.

Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện, nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng tín dụng, sau đó phát sinh tranh chấp nên nguyên đơn khởi kiện. Do đó, quan hệ pháp luật dân sự được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A yêu cầu bị đơn bà Trần Thùy Tr trả tiền nợ vay theo hình thức cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Thành Đức với số tiền hạn mức thẻ là 10.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thùy Tr vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 và Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng), ngày 22/10/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ là hợp pháp: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân, điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng sacombank đã được các bên tự nguyện giao kết với nhau, có công chứng, chứng thực về nội dung và hình thức của hợp đồng thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 nên các bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Trong quá trình vay vốn, bà Tr đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng nên Ngân hàng Sacombank yêu cầu trả tổng số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng.

Như vậy, đây là cơ sở khẳng định giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập giao dịch dân sự về hợp đồng cấp thẻ tín dụng là sự thật. Tính đến ngày 14/9/2025 là 18.473.477 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 8.684.512 đồng; Nợ lãi quá hạn: 9.788.965 đồng.

Từ những phân tích trên, thấy rằng: Lời khai của nguyên đơn phù hợp với nội dung chứng cứ phân tích, điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế giao dịch. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 122 của Bộ luật dân sự năm 2005;

- Điều 90; Điều 91; Điều 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A.

Buộc bị đơn bà Trần Thùy Tr trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền là 18.473.477 đồng (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 8.684.512 đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm mươi hai đồng); Nợ lãi quá hạn: 9.788.965 đồng (Chín triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/9/2025), bà Trần Thùy Tr còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp số tiền 923.600 đồng (Chín trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí, lệ phí 364.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004972 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Cần Thơ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô THị Út Hậu Bùi Thanh Hà

Phương Văn Chính

Cỡ chữ