vanban.org

Bản án 121/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 02/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Nhật K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đinh Nhật K 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Nhật K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST
Ngày: 02-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hoa

Bà Trần Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Ảnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đinh Nhật K, sinh năm 1991 (tên gọi khác: T), tại B. Nơi cư trú: Ấp N, xã B, huyện C, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hồng Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1962, vợ: Trần Thị Soa, sinh năm 1991; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (có mặt).

2. Phan Hồng Đ, sinh năm 1984 tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn P (đã chết) và bà Đinh Thị Q, sinh năm 1947; vợ là Lâm Thanh H, sinh năm 1988. Bị cáo có 02 người con sinh năm 2016 và năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn P, sinh năm 1980 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh B.

- Người làm chứng: Ông Đặng Hùng L, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 6, xã B, huyện C, tỉnh B.

- Người chứng kiến: Ông Phan Thế H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cách ngày 23/4/2024 khoảng 02 tuần, Đinh Nhật K mua 02 hộp 10 ma túy đá với giá 8.000.000 đồng của một đối tượng tên “Q” (chưa rõ lai lịch cụ thể) ở quận G, thành phố H với mục đích là để bán kiếm lời và sử dụng khi có nhu cầu.

Vào khoảng 07 giờ ngày 23/4/2024, nhận được điện thoại của tài khoản Zalo “e N Bình ba” thông qua tài khoản Zalo “Teoacma” của K, K và đối tượng “N” (chưa rõ lai lịch cụ thể) đã thỏa thuận về việc mua bán ma túy. K đồng ý bán cho N 01 hộp 10 ma túy đá với giá 6.200.000 đồng và hẹn đến khu vực ngã tư gần vườn chuối thuộc ấp Đ, xã , huyện C, tỉnh B sẽ giao ma túy và lấy tiền. Sau khi thỏa thuận xong, K lấy 1 bịch ma túy viền đỏ chiết ra 01 ít ma túy và bỏ vào bịch nylon viền xanh rồi dán lại. Số ma túy còn lại trong túi nylon viền đỏ K dán kín lại rồi bỏ vào bao thuốc lá hiệu Jet màu trắng. K đem số ma túy trên cùng với 01 nắp chai nhựa màu đỏ được đục 2 lỗ, 01 chiếc nỏ thủy tinh trong suốt và 01 ống hút nhựa trong suốt đi bộ đến nhà Phan Hồng Đ tại Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh B. Khi đến nơi, K nhặt một chai nhựa hiệu Sting rồi gắn nắp mà mình đã chuẩn bị tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. K vào phòng ngủ nhà Đ đổ một ít ma túy từ túi nylon viền xanh vào trong chiếc nỏ thủy tinh rồi cùng với Đ sử dụng. Lúc này, K đưa gói thuốc Jet bên trong có chứa ma túy mà K đã chuẩn bị cho Đ nhờ Đ đến ngã tư gần vườn chuối thuộc ấp Đ , xã B, huyện C, tỉnh B bán cho đối tượng N thì Đ đồng ý. Đ điều khiển xe máy hiệu Wave màu đỏ đen biển số 72L6-4383 đến địa điểm mà K chỉ định. Sau khi Đ rời đi thì Đặng Hùng L đến nhà tìm Đ nhưng không gặp nên L đi vào phòng ngủ của Đ nằm ngủ chờ. Khi Đ tới khu vực vườn chuối chờ giao ma túy, thì Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức bắt quả tang sự việc đã nêu trên.

Ngoài ra, K và Đ còn khai nhận: cách ngày 23/4/2024 khoảng 02 tuần, Đ đã giúp K bán ma túy cho đối tượng N 01 lần với giá 1.500.000 đồng, và đã nhận tiền công từ K là 100.000 đồng. Đ và K đã cùng sử dụng ma túy với nhau tổng cộng 04 lần kể cả lần sử dụng ma túy vào ngày 23/4/2024 tại nhà Đ. Trong đó, 03 lần tại nhà Đ và 01 lần tại nhà K, tất cả những lần này, ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đều của K.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 23/4/2024, Đinh Nhật K và Phan Hồng Đ dương tính với ma túy loại Methamphetamine, Đặng Hùng L âm tính với chất ma túy trong cơ thể.

Tại Bản kết luận giám định số 266/KL-KTHS-MT ngày 26/4/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:

“- Mẫu A1 có khối lượng 0,1834 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Mẫu A2 có khối lượng 0,1666 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Mẫu A3 có khối lượng 9,7461 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Mẫu A4 có khối lượng 8,4794 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.”

Tổng khối lượng ma túy thu giữ được qua giám định là: 18,5755 gam loại Methamphetamine.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 bao thuốc lá hiệu Jet màu trắng bên trong có chứa 01 bịch nylon trong suốt viền đỏ chứa chất kết tinh màu trắng được thu giữ bên trong túi quần Jean bên trái đang mặc của Phan Hồng Đ;

- 01 bịch nylon trong suốt viền xanh được dán kín bên trong có chứa chất kết tinh màu trắng.

- 01 bao thuốc lá hiệu Jet màu trắng bên trong có chứa chất kết tinh màu trắng mà K cất giấu trong nhà vệ sinh nhà K.

- 02 bật lửa gas

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Sting nắp màu đỏ được đục hai lỗ, 01 chiếc nỏ thủy tinh trong suốt bên trong có chứa chất kết tinh không rõ màu sắc và 01 ống hút nước trong suốt.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 màu tím, có số IMEI: 356646103836219;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, có số IMEI: 352387288251668;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen, có số seri: 353813770271863;

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 72L6-4383, số khung: HC12E0604511, số máy: RLHHG12259Y003540.

Bản cáo trạng số 99/CT-VKS-CĐ ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đứcức giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với các bị cáo Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Nhật K từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và từ 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hồng Đ từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát huyện Châu Đứcức không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ Số ma tuý còn lại sau giám định được đựng trong 03 phong bì niêm phong đánh số 266/1, 266/2; 266/3 ngày 29/4/2024 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

+ 02 bao thuốc lá Jet màu trắng, 02 bật lửa gas và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Sting nắp màu đỏ được đục hai lỗ và 01 ống hút nước trong suốt.

- Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 màu tím, có số IMEI: 356646103836219.

- Đề nghị trả lại cho bị cáo Đinh Nhật K: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, có số IMEI: 352387288251668 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen, có số seri: 353813770271863.

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 72L6-4383, số khung: HC12E0604511, số máy: RLHHG12259Y003540, qua điều tra là tài sản của ông Phan Văn P (sinh năm: 1980; trú tại: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà R), ông P không biết Đ sử dụng để làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy. Nên ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đứcức đã trả lại cho ông Phúc.

- Số tiền 100.000 đồng được K trả công khi Đ đi bán ma túy dùm cho K, Đ đã tiêu xài cá nhân hết. Do đó, đề nghị bị cáo Đ nộp lại số tiền trên sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình tố tụng, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng, kết luận giám định, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Về tội danh mua bán trái phép chất ma túy:

Đinh Nhật K là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu sài mà K đã mua ma túy của đối tượng tên Q (không rõ nhân thân lai lịch) tại quận G, thành phố H với giá 8.000.000 đồng gồm 02 hộp 10 ma túy đá (03 bịch ma túy) nhằm mục đích về để bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm mục đích kiếm lời và khi có nhu cầu thì chiết ra một ít để sử dụng. Sau khi thỏa thuận, Đinh Nhật K đồng ý bán ma túy cho đối tượng tên “N” 01 hộp 10 ma túy đá với giá 6.200.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực ngã tư gần vườn chuối thuộc Ấp Đ, xã B, huyện C. K đã lấy 01 bịch nylon trong suốt viền đỏ được dán kín bên trong có chứa ma túy đá (01 hộp 10) chiết ra một ít ma túy cho vào bịch nylon nhỏ trong suốt viền xanh rồi dán lại, số ma túy còn lại được đựng trong bịch nylon trong suốt viền đỏ được dán kín lại K bỏ vào trong bao thuốc lá hiệu JET màu trắng rồi mang sang nhà Phan Hồng Đ tại địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh B và đưa cho Đ để Đ đem giao ma túy cho đối tượng tên “N” tại địa chỉ đã giao ước với tiền công thỏa thuận là 100.000 đồng/lần. Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 23 tháng 4 năm 2024 chưa kịp giao ma túy cho đối tượng tên “N” thì Phan Hồng Đ đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu bắt quả tang. Quá trình điều tra mở rộng, bị cáo K và Đ đều xác nhận trước đó khoảng 02 tuần, K có thỏa thuận bán cho đối tượng tên “N” 01 bịch ma túy đá với giá 1.500.000 đồng. Đ cũng là người giúp cho K đem số ma túy giao cho đối tượng tên “N” tại Ngã tư thuộc Ấp Đ, xã B, huyện C và đã được nhận tiền công là 100.000 đồng.

Tổng khối lượng ma túy K dùng để bán cho người nghiện là 18, 5755 gam loại Methamphetamine; Khối lượng ma túy mà Đ tham gia bán giúp K là 9,7461 gam loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi tàng trữ ma tuý của Đinh Nhật K với tổng khối lượng ma tuý 18,5755 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại cho các con nghiện và khi có nhu cầu sẽ chiết ra một ít để sử dụng. Thực tế K đã bán ma túy cho đối tượng tên “N” 02 lần với số tiền 7.700.000 đồng đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Phan Hồng Đ biết việc K đưa bao thuốc lá hiệu Jet cho Đ trong đó có ma túy để đi bán cho đối tượng tên “N” và Đ đã đồng ý nên Phan Hồng Đ đã đồng phạm với Đinh Nhật K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Methaphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” và “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát huyện Châu Đức.

Về tội danh tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:

Sáng ngày 23/4/2024 Đinh Nhật K chuẩn bị 01 nắp chai nhựa màu đỏ được đục hai lỗ, 01 chiếc nỏ thủy tinh trong suốt và 01 ống nhựa hút nước trong suốt cùng số ma túy đựng trong bịch nylon nhỏ trong suốt viền xanh được dán kín (là ma túy được chiết ra từ bịch nylon trong suốt viền đỏ trên) đi bộ đến nhà Phan Hồng Đ tại Ấp L, xã B, huyện C. Đến nhà Đ, K nhặt chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Sting bên hông nhà rồi gắn nắp chai nhựa màu đỏ được đục hai lỗ vào, sau đó đổ một ít ma túy từ bịch nylon nhỏ trong suốt viền xanh được dán kín ra để K, Đ sử dụng. Như vậy, K là người cung cấp ma tuý, công cụ sử dụng ma túy, còn Đ cung cấp địa điểm để K, Đ cùng nhau sử dụng ma tuý. Quá trình điều tra, các bị cáo khai đã cùng nhau sử dụng ma túy 03 lần tại nhà Đ, 01 lần tại nhà K. Tất cả những lần này, ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đều do K chuẩn bị. Do đó, hành vi của bị cáo K và Đ đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát huyện Châu Đức.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Căn cứ vào hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ chưa có sự bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ nên không có yếu tố tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý thì bị cáo K là người thực hiện, chuẩn bị ma tuý, Đ là người giúp sức. Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cả K và Đ đều là người thực hiện hành vi phạm tội và có vai trò ngang nhau, trong đó K là người cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng ma túy, Đ sử dụng nhà của mình để cùng sử dụng ma tuý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tự khai nhận về hành vi phạm tội trước đó của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được đựng trong 03 phong bì niêm phong đánh số 266/1, 266/2; 266/3 ngày 29/4/2024 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 bao thuốc lá Jet màu trắng, 02 bật lửa gas và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Sting nắp màu đỏ được đục hai lỗ và 01 ống hút nước trong suốt; đây là công cụ, vật dụng dùng để sử dụng ma tuý. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 màu tím, có số IMEI: 356646103836219; đây là điện thoại mà K dùng để liên lạc mua ma tuý và bán ma tuý cho các con nghiện là tài sản liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, có số IMEI: 352387288251668 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen, có số seri: 353813770271863 thì đây là tài sản của K, không liên quan đến việc phạm tội. Do đó, cần trả lại cho bị cáo Đinh Nhật K.

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 72L6-4383, số khung: HC12E0604511, số máy: RLHHG12259Y003540, qua điều tra là tài sản của ông Phan Văn P (sinh năm: 1980; trú tại: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh B), ông P không biết Đ sử dụng để làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy. Nên ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại cho ông P.

Biện pháp tư pháp khác: Số tiền 100.000 đồng là tiền công mà Phan Hồng Đ nhận được từ bị cáo Đinh Nhật K từ việc đi bán ma túy dùm cho K, Đ đã tiêu xài cá nhân hết. Do đó, cần buộc bị cáo Phan Hồng Đ phải nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên “Q” là người K khai bán ma tuý cho K tại quận G, thành phố H và đối tượng tên “N” là người mua ma túy của K. Tuy nhiên Cơ quan điều tra chưa xác minh được với thông tin của Q, N nên không có căn cứ xử lý trong vụ án mà tách riêng để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Nhật K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đinh Nhật K 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của hai tội, hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố bị cáo Phan Hồng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phan Hồng Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của hai tội, hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu huỷ:

+ 01 phong bì niêm phong đánh số 266/1 ngày 29/4/2024 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

+ 01 phong bì niêm phong đánh số 266/2 ngày 29/4/2024 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

+ 01 phong bì niêm phong đánh số 266/3 ngày 29/4/2024 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

+ 02 bao thuốc lá Jet màu trắng, 02 bật lửa gas và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Sting nắp màu đỏ được đục hai lỗ và 01 ống hút nước trong suốt;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 màu tím, có số IMEI: 356646103836219;

- Trả lại cho bị cáo Đinh Nhật K: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, có số IMEI: 352387288251668; và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen, có số seri: 353813770271863l

(Vật chứng thu giữ đang được Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2024).

4. Biện pháp tư pháp khác: Buộc bị cáo Phan Hồng Đ nộp lại số tiền 100.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đinh Nhật K, Phan Hồng Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ