vanban.org

Bản án 121/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trần Huỳnh Nhị L đối với bà Lê Thị T. Cho ông Trần Huỳnh Nhị L ly hôn với bà Lê Thị T. 2.

1. Buộc ông Trần Huỳnh Nhị L giao cháu Trần Thảo N sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1 sinh ngày 19/8/2015 cho bà Lê Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu N và cháu N1 đang sống với ông Trần Huỳnh Nhị L. Ông Trần Huỳnh Nhị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Huỳnh Nhị L - Lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trần Huỳnh Nhị L đối với bà Lê Thị T. Cho ông Trần Huỳnh Nhị L ly hôn với bà Lê Thị T. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 7 – 2024
Về việc ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Quốc Bảo

2. Bà Dương Thị Tú Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Huỳnh Nhị L, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1979

Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông L, bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ơn h i i n ề ngày 21 th ng 02 năm 2024 và lời hai tại Tòa n nguyên ơn ông Trần Huỳnh Nhị L trình bày: Ông và bà Lê Thị T tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2009, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P theo giấy chứng nhận kết hôn số 153, ngày 21/10/2014. Trong cuộc sống, vợ chồng ông xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không hàn gắn được. Ông và bà T đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông và bà T có liên lạc nhưng không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị T. Ông và bà T có hai người con chung tên Trần Thảo N, sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1, sinh ngày 19/8/2015. Hiện cháu N và cháu N1 đang sống với ông từ khi ly thân đến nay. Nếu hai cháu có nguyện vọng sống với ông thì ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Nếu hai cháu có nguyện vọng sống với bà T thì ông cũng đồng ý và ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị ơn bà Lê Thị T trình bày tại ơn yêu cầu ngày 28/3/2024: Bà đồng ý ly hôn với ông Trần Huỳnh Nhị L. Về con chung, bà đồng ý hai con có ý kiến ở với ai thì người đó có quyền nuôi. Về tài sản chung, bà không cần chia. Ngoài ra, bà T không trình bày gì thêm.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n P ph t biểu ý iến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho ông Trần Huỳnh Nhị L ly hôn với bà Lê Thị T. Về con chung: Giao cháu Trần Thảo N sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1 sinh ngày 19/8/2015 cho bà Lê Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Huỳnh Nhị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, ông L phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ông Trần Huỳnh Nhị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị T. Khi khởi kiện, bà T trú tại ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, ông L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt ông L và bà T là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Ông L và bà T xây dựng hôn nhân năm 2009, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P theo giấy chứng nhận kết hôn số 153, ngày 21/10/2014 nên hôn nhân giữa ông L và bà T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo ông L xác định trong quá trình chung sống ông và bà T xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông và bà T đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông và bà T có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị T đồng ý ly hôn với ông L. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa ông L và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L, cho ông L được ly hôn với bà T.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông L và bà T có hai người con chung tên Trần Thảo N sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1 sinh ngày 19/8/2015, hiện hai cháu đang sống chung với ông L. Khi ly hôn, ông L và bà T yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của hai con chung. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 02 tháng 5 năm 2024, cháu N và cháu N1 đều có nguyện vọng sống với bà T. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu N1 và cháu N, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, buộc ông Trần Huỳnh Nhị L giao cháu Trần Thảo N sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1 sinh ngày 19/8/2015 cho bà Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Bà Lê Thị T không phải chịu án phí.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trần Huỳnh Nhị L đối với bà Lê Thị T. Cho ông Trần Huỳnh Nhị L ly hôn với bà Lê Thị T. 2. Về con chung:

2.1. Buộc ông Trần Huỳnh Nhị L giao cháu Trần Thảo N sinh ngày 24/4/2010 và cháu Trần Thảo N1 sinh ngày 19/8/2015 cho bà Lê Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu N và cháu N1 đang sống với ông Trần Huỳnh Nhị L. Ông Trần Huỳnh Nhị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Ông Trần Huỳnh Nhị L phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông Trần Huỳnh Nhị L đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006696 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí. Bà Lê Thị T không phải chịu án phí.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ