vanban.org

Bản án 121/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim H và anh Lê Văn T.

Về việc nuôi con chung: 1. Chị Lê Thị Kim H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Lê Công D1, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2010 và Lê Hải D2, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim H và anh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-11-2024
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 10 và 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981; Nơi cư trú: Ấp LTB, xã LKA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp LTB, xã LKA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt lần thứ hai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Kim H trình bày: Vào năm 1999, chị có quen biết với anh Lê Văn T, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới, hai vợ chồng chị cùng nhau về sống chung nhà với gia đình của anh T, đến năm 2000 chị và anh T cùng nhau về sống chung nhà với gia đình của chị. Hai vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LKA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến tháng 4 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, anh T thường xuyên nhậu nhẹt, chị khuyên không được, dẫn đến vợ chồng gây gỗ và anh T đánh chị nhiều lần, vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, sau đó anh T dọn đồ về nhà cha mẹ ruột của anh T ở, chị và anh T đã không còn sống chung từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với Lê Văn T. Về con chung: Hai vợ chồng sống chung với nhau có 04 con chung là Lê Thị Huỳnh N1, sinh ngày 12 tháng 12 năm 2000, Lê Thị Kim N2, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2004, Lê Công D1, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2010 và Lê Hải D2, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2015, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Công D1 và Lê Hải D2, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; đối với Lê Thị Huỳnh N1 và Lê Thị Kim N2 đã trưởng thành, tự chăm lo cuộc sống của bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lê Văn T đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Văn T. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung Lê Công D1, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2010 và Lê Hải D2, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2015 cho chị Lê Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu; đối với 02 con chung Lê Thị Huỳnh N1, sinh ngày 12 tháng 12 năm 2000 và Lê Thị Kim N2, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2004 đã trưởng thành, tự chăm lo cuộc sống của bản thân, chị H không yêu cầu giải quyết, nên Viện kiểm sát không đề cập. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Kim H trình bày không có, còn anh Lê Văn T không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Bị đơn anh Lê Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim H và anh Lê Văn T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của Lê Thị Kim H đối với anh Lê Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị H thì cuộc sống của chị và anh T không còn hạnh phúc từ tháng 4 năm 2024 do phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, anh T thường xuyên nhậu nhẹt, chị khuyên không được, dẫn đến vợ chồng gây gỗ và anh T đánh chị nhiều lần, sống chung không còn hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay, trong thời gian không còn sống chung chị và anh T có gặp nhau nhưng không hàn gắn được. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị H và anh T hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Thị Kim H ly hôn với anh Lê Văn T.

Về việc nuôi con chung: Chị Lê Thị Kim H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Lê Công D1, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2010 và Lê Hải D2, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2015, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị H và anh T không còn sống chung và hiện nay thì 02 con chung do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và nhằm ổn định cuộc sống của 02 cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối với 02 con chung Lê Thị Huỳnh N1, sinh ngày 12 tháng 12 năm 2000 và Lê Thị Kim N2, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2004 đã trưởng thành, tự chăm lo cuộc sống của bản thân, chị H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Kim H cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Lâ Văn T không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim H và anh Lê Văn T.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Chị Lê Thị Kim H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Lê Công D1, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2010 và Lê Hải D2, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2015.

2.2. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006267 ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ