vanban.org

Bản án 121/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Mỹ H và anh Nguyễn Hữu C.

Về nuôi con chung: 1 Giao 02 con chung tên Nguyễn Hữu H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2011 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2015 cho chị Trần Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa H và C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Mỹ H và anh Nguyễn Hữu C.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-5-2024
“V/v tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Văn Tư 2. Bà Âu Thị Ngọc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà. Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: chị Trần Mỹ H

sinh năm: 1988

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã C, huyện B, tỉnh Tiền Giang 2. Bị đơn: anh Nguyễn Hữu C

sinh năm: 1979

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tiền Giang

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 08 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Mỹ H trình bày: chị và anh Nguyễn Hữu C tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C thường xuyên uống rượu bia, có những lời lẽ không tốt đối với chị, không lo cho gia đình, chị nhiều lần khuyên nhưng anh C không sửa đổi nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đó đến nay không có hàn gắn tình cảm. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hữu H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2011 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2015 hiện đang sống với anh chị; ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung, yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Hữu C đã được Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh C không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

Tại phiên tòa chị H vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt), anh C đã được Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh C là phù hợp điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: chị Trần Mỹ H khởi kiện anh Nguyễn Hữu C về việc xin ly hôn. Anh C cư trú tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Mỹ H và anh Nguyễn Hữu C tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2010 được Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25 tháng 10 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống theo chị H xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn do anh C thường xuyên uống rượu bia, có những lời lẽ không tốt đối với chị, không lo cho gia đình, chị nhiều lần khuyên nhưng anh C không sửa đổi nên yêu cầu được ly hôn với anh C. Còn anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H chứng tỏ anh C không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng. Mặt khác, chị H và anh C có thời gian dài không chung sống với nhau và anh chị cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm của mình thể hiện qua việc chị H kiên quyết xin ly hôn với anh C cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị H ly hôn với anh C là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2011 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2015 hiện đang sống với anh chị; ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung. Anh C vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Xét thấy, cháu H và cháu T đang sống với chị H đã ổn định, cần tránh sự xáo trộn cuộc sống của hai cháu nên giao cháu H, cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp nguyện vọng cháu H, cháu T mong muốn được sống với chị H. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 con chung đến khi 02 con chung trưởng thành, anh C vắng mặt nên không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định, mức cấp dưỡng chị H yêu cầu là cao so với quy định nhưng lại thấp hơn nhu cầu thực tế cho việc nuôi 02 con nhỏ. Do đó, cần buộc anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung theo yêu cầu chị H là phù hợp Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Mỹ H và anh Nguyễn Hữu C.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao 02 con chung tên Nguyễn Hữu H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2011 và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2015 cho chị Trần Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2 Buộc anh Nguyễn Hữu C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng)/01 con chung đến khi 02 con chung đủ 18 tuồi. Bắt đầu thực hiện việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.3 Anh Nguyễn Hữu C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị Trần Mỹ H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với anh C.

2.4 Kể từ ngày chị Trần Mỹ H có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Nguyễn Hữu C chậm thi hành về việc cấp dưỡng nuôi con như trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

3.1 Chị Trần Mỹ H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015088 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Tiền Giang; chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3.2 Anh Nguyễn Hữu C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: chị Trần Mỹ H, anh Nguyễn Hữu C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ