vanban.org

Bản án 121/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 11/07/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đinh . Chấp nhận kháng cáo của ông Thái Đăng K. Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2022/DS-ST ngày 15 tháng 08 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P yêu cầu hộ gia đình ông Thái Đăng K phải hoàn trả lại 18,2m2 đất. Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02689/QSDĐ/B5 ngày 16/3/2003 do UBND huyện A, tỉnh Bình Định cấp cho hộ gia đình ông Thái Đăng K và phục hồi lại toàn bộ Giấy chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Phó - bị đơnThái Đăng Khanh"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đinh . Chấp nhận kháng cáo của ông Thái Đăng K. Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2022/DS-ST ngày 15 tháng 08 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/DS-PT
Ngày: 11/7/2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

- Các Thẩm phán:

Ông Thái Văn Hà.

Ông Phan Minh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 210/2022/TLPT-DS ngày 22 tháng 04 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2022/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 97/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P; cư trú tại:: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định (Chết ngày 15/11/2023).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà P:

- Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: 3 đường H, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Hoàng Đ; cư trú tại: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Ông Nguyễn Văn C; cư trú tại: 590/1/12 đường N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Luật sư Võ Hồng N, hoạt động tại Công ty TNHH MTV N1; địa chỉ: E H, thành phố Q, tỉnh Bình Định thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Thái Đăng K; cư trú tại: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định; địa chỉ trụ sở: Khu phố B, thị trấn A, huyện A, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện A: Ông Đỗ Đình A, chức vụ: Trưởng phòng, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện A, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 1885/GUQ-UBND ngày 18/6/2024); có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Đ1; địa chỉ: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

- Anh Thái Lý K1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

- Anh Thái Lý T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn X, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

- Anh Thái Lý T3, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà C đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.

Đại diện hợp pháp của ông K, bà T1, anh K1, anh T2: Anh Thái Lý T3; cư trú tại: C T, thành phố Q, tỉnh Bình Định là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/06/2024).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoàng Đ là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và ông Thái Đăng K là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày: Các ông, bà là em ruột của bà P, bà P chết ngày 15/11/2023, không để lại di chúc, không có chồng con, cha mẹ bà P đã chết trước bà P. Các ông bà là người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà P vẫn tiếp tục khởi kiện theo đúng như yêu cầu của bà P trước đây. Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P khai hoang năm 1972. Đến ngày 11/10/2000, nguyên đơn được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 316, tờ bản đồ số 5, diện tích 360 m2. Trên thửa đất này, nguyên đơn xây nhà ở và một phần cho vợ chồng em trai bà là ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị Đ1 xây nhà ở gần chăm sóc bà. Ranh giới giữa thửa 316 của nguyên đơn và thửa 369 của bị đơn là cây quăn và hàng chè nam đã bị ông K chặt phá và trồng 01 cây trụ lõi cao 1,2 mét sát tường nhà nguyên đơn. Khi ông K trồng trụ lõi, bà P, ông Đinh h trồng để làm gì thì bị đơn nói rằng trồng trụ để giăng lưới gà. Tháng 02/2019, bị đơn tiếp tục lấn chiếm đất của nguyên đơn trồng 03 cây trụ bê tông làm ranh, ông Đinh ngăn c không được. Sau đó, nguyên đơn đưa sự việc này yêu cầu Ủy ban nhân dân xã A đo đạc giải quyết đất của nguyên đơn thiếu 18,8 m2 nhưng không thành. Căn cứ kết quả Công ty cổ phần T4 vẽ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P yêu cầu bị đơn và các thành viên trong hộ gia đình bị đơn phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 18,2m2, cụ thể chiều rộng phía đông trả lại 0,96m (đo từ điểm đầu mái tôn hiên nhà nguyên đơn kéo xuống phía nam), chiều rộng phía tây (từ cây cau sống kéo xuống góc nhà bếp của bị đơn) trả lại 0,61m. Bị đơn ông Thái Đăng K trình bày: Diện tích đất tranh chấp không phải của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, mà có nguồn gốc là của mẹ bị đơn (bà Bùi Thị B) mua năm 1975, làm nhà ở. Năm 1978, mẹ ruột cho vợ chồng bị đơn ngôi nhà và toàn bộ diện tích đất. Đến ngày 30/10/1995, bị đơn được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 445m2 tại thửa 369, tờ bản đồ số 5. Sau đó, ông K biết được UBND huyện A cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông với diện tích 315m2, ông K không đồng ý nên đến gặp nhân viên địa chính yêu cầu sửa lại, nhưng họ trả lời đất trừ hành lang giao thông, không được hủy sửa. Từ khi mẹ ông mua đất đến nay, ranh giới giữa thửa đất của bị đơn và nguyên đơn bà P ở phía đông là 01 cây trụ lõi trồng cách tường nhà bà P 10 cm. Ranh phía tây là 01 cây cau ăn trái, hiện còn sống. Khi bị đơn trồng cau, nguyên đơn bà P biết nhưng không nói gì. Sau này bị đơn còn trồng một số cây cảnh như mai, sung, liễu trên phần đất của bị đơn và 03 cây trụ bê tông để làm ranh. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 18,2 m2 đất, bị đơn không lấn chiếm nên không đồng ý trả đất cho nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị T1, anh Thái Lý K1, anh Thái Lý T2, anh Thái Lý T3 trình bày: Thống nhất như lời trình bày và ý kiến của ông Thái Đăng K là không đồng ý trả đất cho nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày:

Bà là vợ ông Nguyễn Hoàng Đ, bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của Nguyên đơn cũng như của ông Đ.

Đại diện theo ủy quyền Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định ông Đỗ Đình A trình bày:

Năm 1995, Hội đồng đăng ký ruộng đất của xã A cân đối xét giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị P gồm 02 thửa đất, trong đó thửa 316, tờ bản đồ số 5 diện tích 360m2 (đất ở 300m2, đất trồng cây lâu năm 60m2). Đến ngày 11/10/2000, UBND huyện A mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà P tại giấy chứng nhận số 02081QSDĐ/B5. Về trình tự thủ tục giao quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị P là đúng theo trình tự, quy định của pháp luật.

Đối với diện tích đất cấp cho bị đơn ông Thái Đăng K: Năm 1995, Hội đồng đăng ký ruộng đất của xã A xét cân đối giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Thái Đăng K tại thửa đất số 369, tờ bản đồ số 5 diện tích 445m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 145m2 đất vườn). Đến năm 2003, thực hiện Quyết định 389/QĐ-UB, ngày 05/02/2002 của UBND tỉnh B, UBND huyện A đã tổ chức triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn toàn huyện. Tuy nhiên, thửa đất 369, tờ bản đồ số 5 của hộ ông Thái Đăng K được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 315 m2, loại đất ở. Nay UBND huyện A bổ sung ý kiến như sau: Theo Tờ trình số 403/TTT-P3 ngày 05/6/2023 của Thanh Tra tỉnh Bình Định về việc đề xuất giải quyết đơn khiếu nại của ông Thái Đăng K. Tại phần nhận, xét kiến nghị nêu: Hiện nay hồ sơ lưu trữ về cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/B5 ngày 16/3/2003 tại thửa đất số 369, tờ bản đồ số 5, loại đất ở, diện tích 315m2 của ông Thái Đăng K bị thất lạc. Hiện nay UBND huyện A đang chỉ đạo Phòng T5 phối hợp với Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện A và UBND xã A tiến hành lập thủ tục và ban hành quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số 02689/B5 cấp ngày 16/3/2003 tại thửa đất số 369, tờ bản đồ số 5 nêu trên. Đồng thời phục hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01339/QSDĐ/B5, do UBND huyện A cấp ngày 30/10/1995 cho hộ ông Thái Đăng K đúng theo quy định pháp luật. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện A đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/B5 ngày 16/3/2003 tại thửa đất số 369, tờ bản đồ số 5, loại đất ở, diện tích 315m2 của ông Thái Đăng K và phục hồi lại giấy chứng nhận QSD đất số 01339/QSDĐ/B5, do UBND huyện A cấp ngày 30/10/1995 cho hộ ông Thái Đăng K.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2022/DS-ST ngày 15 tháng 08 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc hộ ông Thái Đăng K trả lại diện tích đất 3,9 m2 cho bà Nguyễn Thị P.

Diện tích này được ký hiệu trên sơ đồ với các điểm cụ thể:

Điểm 1: Cạnh phía Tây là tim cây cau sống.

Điểm 4: Cạnh phía Đông được xác định tại điểm đầu mái tôn hiên nhà bà P (song song với cây trụ sắt đầu tiên của mái hiên).

Điểm 3.1: Cạnh phía Đông được xác định từ điểm 4 kéo xuống phía nam 0,33 mét.

(Tọa độ các điểm theo trích đo địa chính thửa đất kèm theo bản án sơ thẩm).

2. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc buộc ông Thái Đăng K phải trả 14,3 m2 đất.

3. Buộc ông Thái Đăng K phải di dời, dỡ bỏ cây và các trụ đã trồng thuộc diện tích đất 3,9m2 để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị P.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, ông Nguyễn Hoàng Đ kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Thái Đăng K trả lại toàn bộ phần đất lấn chiếm.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, ông Thái Đăng K kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xác minh làm rõ việc gia đình bà P thiếu đất là do đổi đất với ông Đ, bà Đ1, yêu cầu xem xét, thẩm định, đo đạc mốc giới liền kề phía Bắc giữa bà Nguyễn Thị P và hộ bà H theo bản đồ địa chính năm 1995, xác minh làm rõ việc UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 16/3/2003 nhưng diện tích đất của gia đình ông bị thiếu 130m2. Tại phiên tòa, ông K bổ sung kháng cáo yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/B5 ngày 16/3/2003 do ubnd H cấp cho hộ gia đình ông.

Luật sư Võ Hồng N trình bày luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đ, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng K2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đ, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng K2. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về Tố tụng: Bà Nguyễn Thị P chết trong thời gian chuẩn bị xét xử tại cấp phúc thẩm không để lại di chúc, không có chồng con, cha mẹ bà P chết trước bà P. Do đó, cấp phúc thẩm đưa những người thừa kế ở hàng thứ hai của bà P là ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà P theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đ và kháng cáo của ông Nguyễn Đăng K2, HĐXX thấy rằng:

Năm 1995, Hội đồng đăng ký ruộng đất của xã A, huyện A đã cân đối, xét và đề nghị UBND huyện A giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị P gồm 02 thửa đất, trong đó thửa 316, tờ bản đồ số 5 diện tích 360m2 (đất ở 300m2, đất vườn 60m2). Ngày 11/10/2000, UBND huyện A đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02081QSDĐ/B5 cho hộ bà P. Về diện tích thì thửa đất này được cấp đúng theo diện tích bà P đăng ký kê khai và được cân đối giao quyền.

Năm 1995, Hội đồng đăng ký ruộng đất của xã A, huyện A cân đối, xét cân đối giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Thái Đăng K gồm 02 thửa đất, trong đó thửa 369, tờ bản đồ số 5 diện tích 445m2 (đất ở 300m2, đất vườn 145m2). Ngày 30/10/1995, UBND huyện A đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01339/QSDĐ/B5 cho hộ ông K. Về diện tích thì thửa đất này được cấp đúng theo diện tích hộ ông K đăng ký kê khai và được cân đối giao quyền.

Quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện A đã cung cấp cho Tòa án bản photocopy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/QSDĐ/B5, ngày 16/3/2003 đứng tên hộ ông Thái Đăng K với diện tích được cấp là 315m2 đất ở (thiếu 130m2 so với diện tích được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01339/QSDĐ/B ngày 30/10/1995 và thiếu 100,2m2 so với hiện trạng sử dụng từ trước tới nay). Xét thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/QSDĐ/B5, ngày 16/3/2003 là rõ ràng trái pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông Thái Đăng K, bởi lẽ: UBND huyện A không cung cấp cho Tòa được bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/QSDĐ/B5 ngày 16/3/2003, không có quyết định thu hồi 130m2 đất, không có quyết định thu hồi hoặc chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có biên bản, sơ đồ đo đạc diện tích thực tế của thửa đất khi thay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, không có bản kê khai đăng ký của hộ ông K về diện tích đất khi xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có đơn xin cấp lại hoặc đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới của hộ ông K, không có biên bản bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho hộ ông K theo quy định của pháp luật, trong khi hộ ông K cho rằng hoàn toàn không biết việc UBND huyện A cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/QSDĐ/B5 ngày 16/3/2003. Như vậy, về hình thức (trình tự thủ tục ban hành) lẫn nội dung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (quyết định cá biệt) nêu trên, được ban hành trái với các quy định của pháp luật về việc quản lý hành chính trong lĩnh vực đất đai. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm UBND huyện A cũng đã bổ sung ý kiến đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02689/QSDĐ/B5 ngày 16/3/2003 do UBND huyện A cấp cho hộ gia đình ông Thái Đăng K. Do đó, HĐXX quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và phục hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01339/QSDĐ/B5 do UBND huyện A cấp ngày 30/10/1995 cho hộ ông Thái Đăng K theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua việc xem xét, thẩm định tại chỗ và theo sơ đồ bản vẽ do Công ty cổ phần T6 thực hiên ngày 23/02/2023 thì thực tế diện tích hộ bà P1 đang sử dụng là 332,1m2 (thiếu so với diện tích được giao quyền sử dụng 27,9m2) và hộ ông K đang sử dụng là 415,2m2 (thiếu so với diện tích được giao quyền sử dụng 29,2m2). Như vậy, thực tế đất của cả hai hộ gia đình bà P, ông khanh đều thiếu so với diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hộ gia đình ông K còn bị thiếu nhiều hơn. Do đó, cấp sơ thẩm nhận định rằng hộ gia đình ông khanh có lấn chiếm đất của hộ bà P và buộc hộ ông K phải trả lại cho hộ bà P 3,9m2 là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đ là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận, kháng cáo của ông Thái Đăng K là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận. Sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí, chi phí tố tụng khác:

Về án phí: Theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà P, ông K và ông Nguyễn Hoàng Đ được miễn.

Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 21.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng Đ đã tạm ứng chi xong 14.000.000 đồng, ông Thái Đăng K đã tạm ứng chi xong 7.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà P không được chấp nhận nên theo quy định tại các Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì ông Đinh p chịu toàn bộ chi phí tố tụng khác nêu trên, vì vậy ông Đinh p hoàn trả lại cho ông K 7.000.000 đồng.

Luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị P của Luật sư Võ Hồng N là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX. Ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 34, 74, 147, 148, 157, 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 163, 164, 175 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 100, 106, 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đinh . Chấp nhận kháng cáo của ông Thái Đăng K. Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2022/DS-ST ngày 15 tháng 08 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P yêu cầu hộ gia đình ông Thái Đăng K phải hoàn trả lại 18,2m2 đất.

2. Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02689/QSDĐ/B5 ngày 16/3/2003 do UBND huyện A, tỉnh Bình Định cấp cho hộ gia đình ông Thái Đăng K và phục hồi lại toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01339/QSDĐ/B5 do UBND huyện A cấp ngày 30/10/1995 cho hộ ông Thái Đăng K. 3. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

3.1 Về án phí: Bà Nguyễn Thị P, ông Thái Đăng K và ông Nguyễn Hoàng Đ được miễn.

3.2 Về chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Hoàng Đ phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Thái Đăng k 7.000.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

4. quyền, nghĩa vụ thi thành án:

4.1 Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4.2 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ