vanban.org

Bản án 121/2024/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/03/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâ Ngọc A.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩ số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 nă 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Về án phí: Ông Lâ Ngọc A phải chịu 300.000 (ba tră nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩ , được khấu trừ 300.000 (ba tră nghìn) đồng tạ ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "ông B và ông A"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâ Ngọc A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự nă; Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/DS-PT
Ngày 11-03-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ

Các Thẩm phán:

Bà Ngô Thị Bích Diệp

Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Tr n Thị PhưRc– Kiể sát viên.

Trong các ngày 04 và 11 tháng 3 nă 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩ công khai vụ án dân sự thụ lý số: 631/2023/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 nă 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩ số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 nă 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số 11/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 nă 2024 và Thông báo ở lại phiên tòa số 19/2024/TB-TA ngày 19 tháng 02 nă 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Chí B, sinh nă 1962; địa chỉ: số B, tổ A, ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1. Ông Thái Thanh H, sinh nă 1979; cư trú tại: tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có ặt.

2. Ông Nguyễn Hữu K, sinh nă 1998; cư trú tại: tổ G, thôn B, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Na , có ặt.

Là những người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2021).

- Bị đơn: Ông Lâ Ngọc A, sinh nă 1993; địa chỉ: ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có yêu c u xet xử vắng ặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

1. Ông Nguyễn Bá T, Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, vắng ặt.

2. Bà Đinh Yến N, Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có ặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Tr n Thị T1, sinh nă 1969; địa chỉ: số B, tổ A, ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có ặt.

2. Bà Tào Thị Thanh H1, sinh nă 1977; địa chỉ: căn hộ A, t ng D, tòa nhà D, khu đô thị M, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội, vắng ặt.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Khánh T2, sinh nă 1975; địa chỉ: số B, đường H, tổ E, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/7/2022), vắng ặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lâ Ngọc A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩ :

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2021; đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/02/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông Trương Chí B, bà Tr n Thị T1 là chủ quyền sử dụng thửa đất số 776 và thửa đất số 52, tờ bản đồ 41, tại ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc ph n đất này do vợ chồng ông B, bà T1 khai phá, quản lý, sử dụng ổn định lâu dài, được Ủy ban nhân dân huyện T công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 961462 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00241) ngày 06/10/2005 (thửa 52) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 922894 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH02349) ngày 25/7/2017 (thửa 776).

Vào nă 2010, ph n đất thuộc thửa số 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương vẫn còn đứng tên của cha ông Lâ Ngọc A là ông Lâ Ngọc K1. Giữa vợ chồng ông B, bà T1 và ông Lâ Ngọc K1 đã phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất đối vRi ph n đất hiện nay được xác định là thửa 776, tờ bản đồ 41, tại xã T, được Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 78/2010/QĐST-DS ngày 16/9/2010. Theo quyết định này, hộ ông Lâ Ngọc K1 có trách nhiệ trả lại cho vợ chồng ông B, bà T1 diện tích đất 15.120 2 (gồ 1.330 2 nay là thửa 776 và 13.790 2 nay là thửa 775) thuộc ột ph n thửa đất số 40, tờ bản đồ 41. Sau khi Tòa án ban hành quyết định nêu trên, hộ ông Lâ Ngọc K1 đã chấp hành quyết định, trả lại cho ông B, bà T1 ph n đất có diện tích 1.330 2 (nay là thửa 776) và 13.790 2 (nay là thửa 775) thuộc ột ph n thửa đất số 40, tờ bản đồ 41. Vợ chồng ông B, bà T1 đã kê khai, đăng ký 1.330 2 nêu trên (tách từ thửa 40 vRi số thửa Ri là thửa 776, tờ bản đồ 41) và được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 922894 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02349) ngày 25/07/2017. Vợ chồng ông B, bà T1 cũng đã kê khai, đăng ký đối vRi diện tích đất 13.790 2 (tách từ thửa 40 vRi số thửa Ri là thửa 775, tờ bản đồ 41) và cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 922893 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02350) ngày 25/7/2017.

Thửa đất 776 và thửa đất 52 của ông B, bà T1 giáp ranh vRi thửa đất số 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương của anh Lâ Ngọc A.

Nay, qua việc đo đạc thực tế, vợ chồng ông B, bà T1 phát hiện ông Lâ Ngọc A đã lấn chiế 600 2 đất của vợ chồng ông B, bà T1 tại thửa đất 776, và lấn chiế 400 2 đất tại thửa đất 52, đồng thời là thủ tục hợp thửa vào thửa đất 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương của ông Lâ Ngọc A. Qua nhiều l n thương lượng giữa hai bên không thành. Vụ tranh chấp đã được đưa đến Ủy ban nhân dân xã T tổ chức hòa giải bắt buộc theo quy định của pháp luật nhưng cả hai l n là vào ngày 19/12/2019 và vào ngày 25/12/2019, ông Lâ Ngọc A đều vắng ặt. Do vậy, việc hòa giải không thực hiện được.

Nhận thấy, ông Lâ Ngọc A có hành vi lấn chiế đất của vợ chồng ông B, bà T1 là vi phạ pháp luật, xâ phạ nghiê trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông B, bà T1. Qua hòa giải tranh chấp đất đai bắt buộc tại cấp xã, ông Lâ Ngọc A cố tình không tha gia. Vì vậy, nay vợ chồng ông B, bà T1 khởi kiện yêu c u cụ thể như sau:

- Yêu c u Tòa án buộc ông Lâ Ngọc A trả lại cho vợ chồng ông B, bà T1 ph n đất có diện tích 1.000 2 thuộc thửa đất số 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương à ông Lâ Ngọc A đã lấn chiế của vợ chồng ông B, bà T1 tại hai thửa 776 và 52, tờ bản đồ 41 rồi hợp thửa vào thửa đất 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41 của anh Lâ Ngọc A.

- Yêu c u Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện B thu hồi ột ph n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất tranh chấp à Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho ông Lâ Ngọc A tại thửa đất số 892 (thửa cũ là 40), tờ bản đồ 41 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để vợ chồng ông B, bà T1 được kê khai, đăng ký, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối vRi ph n đất à ôngLâ Ngọc A đã lấn chiế .

Sau khi được tiếp cận Mảnh trích lục địa chính ngày 18/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B thì vợ chồng ông B, bà T1 xác định lại yêu c u khởi kiện như sau:

Yêu c u Tòa án buộc ông Lâ Ngọc A trả lại cho vợ chồng ông B, bà T1 ph n đất có tổng diện tích 531,7 2 (gồ : 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52, cùng tờ bản đồ số 41) tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương à ông Lâ Ngọc A đã lấn chiế của vợ chồng ông B, bà T1. Nguyên đơn xin rút yêu c u đối vRi ph n diện tích 48,9 2 thuộc thửa 892, tờ bản đồ số 41 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đối vRi tài sản trên đất thì cây cao su trên ph n đất của ai thì người đó sử dụng, không tranh chấp về tài sản trên đất, không bồi thường tài sản trên đất.

- Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Ph n đất tranh chấp theo bản vẽ đo đạc ngày 18/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B có diện tích 531,7 2 (trong đó có: 219,8 2 thuộc thửa 52 và 311,9 2 thuộc thửa 776). Thửa 52 và thửa 776 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông B, bà T1 và hiện ph n diện tích này là đường đi do ông B, bà T1 sử dụng và 48,9 2 thuộc thửa 892 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâ Ngọc A do ông Lâ Ngọc A nhận thừa kế, hiện ông Lâ Ngọc A đã chuyển nhượng lại cho bà Tào Thị Thanh H1. Ông Lâ Ngọc A xác định sử dụng đúng ph n đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó chuyển nhượng lại cho bà H1. Khi đo đạc để chuyển nhượng cho bà H1 cũng đã được đo đạc lại đất thực tế sử dụng đúng vRi giấy chứng nhận; ranh đất là hàng rào trụ bê tông, dây kẽ gai, sau đó chuyển nhượng lại cho bà H1. Khi đo đạc, thẩ định tại chỗ ngày 27/7/2022 ông Lâ Ngọc A xác định sử dụng đúng ph n đất được cấp giấy chứng nhận nên không đồng ý chỉ ranh à do phía vợ chồng ông B, bà T1 tự xác định ranh. Do đó, nay vợ chồng ông B, bà T1 khởi kiện thì ông Lâ Ngọc A không đồng ý vRi yêu c u khởi kiện vì ông A chỉ sử dụng đúng diện tích 18.507,4 2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, sau đó chuyển nhượng lại cho bà H1, ph n diện tích tranh chấp có tổng diện tích 531,7 2 (gồ : 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52) tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương là nằ ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lâ Ngọc A (nay là bà H1) ông Lâ Ngọc A và bà H1 không sử dụng ph n đất này. Đối vRi tài sản trên đất thì cây cao su trên ph n đất của ai thì người đó sử dụng, không tranh chấp về tài sản trên đất, không yêu c u bồi thường tài sản trên đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tr n Thị T1 thống nhất vRi lời trình bày của những người đại diện hợp pháp cho ông Trương Chí B và không bổ sung gì thê .

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tào Thị Thanh H1 là ông Nguyễn Khánh T2 trình bày:

Ông T2 thống nhất lời trình bày của người đại diện hợp pháp của ông Lâ Ngọc A. Ngày 19/4/2021, bà H1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 892 từ ông A. Ngày 13/4/2021, theo kết quả đo đạc lại thửa đất 892 để là thủ tục chuyển nhượng cũng xác định đất thực tế sử dụng đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Bà H1 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nhận chuyển nhượng thì ranh đất giữa thửa 892 và thửa 776, 52 có hàng rào trụ bê tông, kẽ gai, sau đó không biết vì lý do gì à khi ông B tranh chấp thì hàng rào ph n giáp đất ông B bị dỡ bỏ. Tuy nhiên, ph n dưRi đất, vẫn còn các cọc sắt nên ph n đất à phía vợ chồng ông B, bà T1 chỉ ranh để giải quyết tranh chấp là không đúng và khi là thủ tục nhận chuyển nhượng thì hồ sơ chuyển nhượng cũng đã có đ y đủ các giấy tờ pháp lý về nguồn gốc đất cũng như giấy xác nhận tình trạng bất động sản đất không tranh chấp của Ủy ban nhân dân xã T. Do đó, nay vợ chồng ông B khởi kiện thì bà H1 xác định chỉ sử dụng đúng diện tích 18.507,4 2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, ph n diện tích tranh chấp có tổng diện tích 531,7 2 (gồ : 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52, cùng tờ bản đồ số 41) tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương là nằ ngoài giấy chứng nhận được cấp cho bà H1, bà H1 không sử dụng ph n đất này. Đối vRi tài sản trên đất thì cây cao su trên ph n đất của ai thì người đó sử dụng, không tranh chấp về tài sản trên đất, không yêu c u bồi thường tài sản trên đất.

Tại phiên tòa sơ thẩ , nguyên đơn yêu c u bị đơn phải trả cho vợ chồng ông B, bà T1 quyền sử dụng đất có tổng diện tích 531,7 2 (trong đó có 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52, cùng tờ bản đồ số 41) tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất; nguyên đơn xin rút yêu c u khởi kiện đối vRi ph n diện tích đất 48,9 2 thuộc thửa 892, tờ bản đồ số 41, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương vì xác định diện tích đất 48,9 2 này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Tào Thị Thanh H1; rút yêu c u tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâ Ngọc A và bà Tào Thị Thanh H1, được Văn phòng C công chứng số 1477, quyển số 04/2021-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 vô hiệu ột ph n đối vRi quyền sử dụng đất có diện tích đang tranh chấp giữa vợ chồng ông B, bà T1 và ông Lâ Ngọc A tại thửa 892 (thửa cũ số 40), tờ bản đồ số 41 và cũng rút yêu c u Tòa án kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi, chỉnh giả ph n đất có diện tích 1.000 2, thuộc thửa đất số 892 (thửa cũ số 40), tờ bản đồ số 41 đang tranh chấp giữa vợ chồng ông B, bà T1 và ông Lâ Ngọc A.

Tại Bản án dân sự sơ thẩ số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 nă 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:

- Đình chỉ xét xử đối vRi các yêu c u: Buộc ông Lâ Ngọc A phải trả cho vợ chồng ông Trương Chí B, bà Tr n Thị T1 quyền sử dụng đất có diện tích 48,9 2 thuộc thửa 892, tờ bản đồ số 41, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; yêu c u tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâ Ngọc A và bà Tào Thị Thanh H1, được Văn phòng C công chứng số 1477, quyển số 04/2021-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 vô hiệu ột ph n đối vRi quyền sử dụng đất có diện tích đang tranh chấp giữa ông Trương Chí B và ông Lâ Ngọc A tại thửa 892 (thửa cũ số 40), tờ bản đồ số 41 và đình chỉ xét xử yêu c u Tòa án kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi, chỉnh giả ph n đất có diện tích 1.000 2, thuộc thửa đất số 892 (thửa cũ số 40), tờ bản đồ số 41 đang tranh chấp giữa ông Trương Chí B và ông Lâ Ngọc A trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ: CS06071 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Tào Thị Thanh H1 ngày 25/5/2021.

- Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Chí B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối vRi bị đơn ông Lâ Ngọc A.

Buộc ông Lâ Ngọc A có trách nhiệ trả lại cho vợ chồng ông Trương Chí B, bà Tr n Thị T1 quyền sử dụng đất có tổng diện tích 531,7 2 (trong đó có 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52, cùng tờ bản đồ số 41), tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 961462 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00241) ngày 06/10/2005 (thửa 52) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 922894 (số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH02349) ngày 25/7/2017 (thửa 776); đất có tứ cận: phía Đông giáp thửa đất số 892, tờ bản đồ số 41; phía Tây giáp thửa đất số 52, tờ bản đồ số 41; phía Na giáp thửa đất số 52 và 776, cùng tờ bản đồ số 41; phía Bắc giáp thửa đất số 892, tờ bản đồ số 41.

(Có sơ đồ kè theo)

Vợ chồng ông Trương Chí B, bà Tr n Thị T1 được quyền sở hữu 38 cây cao su gắn liền vRi diện tích đất 531,7 2 trên và có trách nhiệ trả cho anh Lâ Ngọc A số tiền là: 18.202.000 ( ười tá triệu, hai tră lẻ hai ngàn) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩ còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩ , ngày 09/10/2023 bị đơn ông Lâ Ngọc A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩ .

Tại phiên tòa phúc thẩ , nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu c u kháng cáo, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu c u Tòa án cấp phúc thẩ hủy bản án sơ thẩ để xét xử lại do Tòa án cấp sơ thẩ vi phạ thủ tục tố tụng. Các đương sự không thỏa thuận được vRi nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiể sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tha gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩ đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: bị đơn ông Lâ Ngọc A nộp đơn phản tố yêu c u công nhận diện tích đất đang có tranh chấp là 531,7 2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn. Tuy nhiên, đơn phản tố của bị đơn nộp sau khi có phiên họp kiể tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nên Tòa án cấp sơ thẩ không chấp nhận yêu c u phản tố là có căn cứ. Đối vRi yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy ph n đất tranh chấp có nguồn gốc là của nguyên đơn và đã được cấp giấy chứng nhận cho nguyên đơn, trên đất có 38 cây cao su của bị đơn trồng nên Tòa án sơ thẩ chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng đất là của nguyên đơn và buộc nguyên đơn phải bồi thường giá trị cây cao su là có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩ .

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩ tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiể sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bị đơn ông Lâ Ngọc A kháng cáo trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý theo quy định của pháp luật.

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng ặt; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Bá T và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tào Thị Thanh H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng ặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng ặt họ.

Tại phiên tòa sơ thẩ , nguyên đơn rút ột ph n yêu c u khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩ đình chỉ xét xử đối vRi yêu c u đã rút là đúng quy định của pháp luật.

Tại cấp sơ thẩ , bị đơn ông Lâ Ngọc A nộp đơn phản tố yêu c u công nhận diện tích đất đang có tranh chấp là 531,7 2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn. Tuy nhiên, đơn phản tố của bị đơn không đả bảo theo quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩ căn cứ khoản 3, Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu c u phản tố là có căn cứ.

Về nội dung vụ án:

Ông Trương Chí B, bà Tr n Thị T1 đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất số 52 có diện tích 168.601,4 2 và thửa đất số 776 có diện tích 1.330 2, cùng tờ bản đồ 41, đất tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 961462, số vào sổ cấp GCN: H00241 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 06/10/2005 (được đăng ký biến động ngày 13/01/2016) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 922894, số vào sổ cấp GCN: CH02349 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 25/7/2017. Nguồn gốc thửa đất số 52 do vợ chồng ông B, bà T1 khai phá, quản lý, sử dụng ổn định lâu dài. Riêng thửa đất số 776 được cấp theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 78/2010/QĐST-DS ngày 16/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Ông Lâ Ngọc A đứng tên quyền sử dụng đất thửa 892, tờ bản đồ số 41, có diện tích 18.507,4 2, đất tọa lạc tại ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 301498 số vào sổ cấp GCN: CS03672 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/8/2019. Nguồn gốc thửa đất số 892 là do ông A nhận thừa kế của ông Lâ Ngọc K1 theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 29/7/2019. Ngày 19/4/2021, ông Lâ Ngọc A chuyển nhượng toàn bộ thửa 892 cho bà Tào Thị Thanh H1; ngày 25/5/2021, bà H1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 733711, số vào sổ cấp GCN: CS06071 vRi diện tích là 18.507,4 2, đất thuộc thửa 892, tờ bản đồ số 41.

Tại cạnh hưRng Đông của thửa 892 đã cấp Giấy chứng nhận cho ông Lâ Ngọc A (nay là bà Tào Thị Thanh H1) giáp vRi cạnh phía Tây của thửa số 776 và thửa đất số 52 đã cấp Giấy chứng nhận cho vợ chồng ông B, bà T1. Theo nguyên đơn thì trưRc khi chuyển nhượng cho bà H1 toàn bộ thửa 892 thì ông A đã trồng cao su trên thửa đất 892 và đồng thời trồng qua cả ph n đất của vợ chồng ông B, bà T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến tranh chấp. Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1409-2022 thể hiện ph n đất có tranh chấp có 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52. Theo biên bản xe xét, thẩ định tại chỗ ngày 27/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên thể hiện trên ph n đất tranh chấp gồ 311,9 2 thuộc thửa đất số 776, 219,8 2 thuộc thửa đất số 52 và 48,9 2 thuộc thửa 892 có 41 cây cao su do ông Lâ Ngọc A trồng.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩ , theo biên bản hòa giải ngày 22/6/2023, người đại diện của bị đơn ông Lâ Ngọc A và đại diện của bà H1 đều xác định bà H1 nhận chuyển nhượng của ông A quyền sử dụng đất có diện tích đất là 18.507,4 2 và bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng vRi diện tích đất là 18.507,4 2 nên ông A và bà H1 đồng ý sử dụng ph n diện tích đúng vRi diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối vRi diện tích đất đang có tranh chấp nằ ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1 thì ông Lâ Ngọc A và bà H1 không sử dụng nên đồng ý vRi yêu c u khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, chính bị đơn và người nhận chuyển nhượng đất của bị đơn đã thừa nhận ph n đất tranh tranh chấp diện tích 531,7 2 (trong đó có 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52, cùng tờ bản đồ số 41), tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương là của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận của các bên. Tại biên bản xe xét thẩ định tại chỗ ngày 08/9/2023 xác định trên diện tích đất đang có tranh chấp gồ 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và 219,8 2 thuộc thửa đất số 52 có 38 cây cao su do ông Lâ Ngọc A trồng khoảng nă 2014 và hiện do ông Lâ Ngọc A quản lý.

Xét thấy, diện tích 531,7 2 đang có tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B, bà T1; trong đó có diện tích đất 311,9 2 thuộc thửa đất số 776, tờ bản đồ 41 và diện tích đất 219,8 2 thuộc thửa đất số 52. Đối vRi diện tích đất 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 là 01 ph n trong tổng diện tích đất 1.330 2 đã được giải quyết tranh chấp giữa vợ chồng ông B, bà T1 và cha của ông A là ông Lâ Ngọc K1 bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 78/2010/QĐST-DS ngày 16/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Lẽ ra khi sử dụng đất thì các bên phải tôn trọng ranh giRi, ốc giRi đất đã được Nhà nưRc cấp giấy chứng nhận, tôn trọng sự thỏa thuận của ình trưRc đó; nhưng thực tế quản lý, sử dụng thì ông Lâ Ngọc A vẫn tiếp tục sử dụng ph n đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông B, bà T1, tiến hành trồng cao su trên đất và khi chuyển nhượng cho bà H1 thì vẫn chuyển nhượng theo thực tế sử dụng (có chỉ ranh) à không theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có ảnh trích đo địa chính thì bà H1 xác định: ph n đất của bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua giao dịch là hợp đồng chuyển nhượng, không phải do bà Hoa đăng k kê khai l n đ u nên bà H1 chỉ sử dụng ph n đất bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận, bà H1 không có ý kiến gì vRi tổng diện tích đất đang có tranh chấp là 531,7 2. Sau khi bà H1 không có ý kiến gì đối vRi tổng diện tích đất đang có tranh chấp là 531,7 2 thì ông Lâ Ngọc A lại xác định ph n đất này thuộc quyền sử dụng của ình. Tuy nhiên, như phân tích ở trên thì ph n đất đang có tranh chấp có tổng diện tích đất là 531,7 2, trong đó có diện tích đất 311,9 2 thuộc thửa đất số 776 và diện tích đất 219,8 2 thuộc thửa đất số 52 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông B, bà T1.

Đối vRi tài sản gắn liền vRi đất là 38 cây cao su trồng khoảng nă 2014 có giá trị là 18.202.000 đồng, do ông Lâ Ngọc A và ông A phải trả lại cho vợ chồng ông B, bà T1 quyền sử dụng đất này nên tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông B, bà T1 và vợ chồng ông B, bà T1 có trách nhiệ trả cho ông Lâ Ngọc A giá trị 38 cây cao su gắn liền vRi đất là: 18.202.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất, các chứng cứ khác đã thu thập được, quy định của pháp luật và quyết định chấp nhận yêu c u của nguyên đơn là phù hợp vRi quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Lâ Ngọc A kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩ vi phạ tố tụng nên đề nghị hủy bản án sơ thẩ để chuyển về cấp sơ thẩ xét xử lại nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng inh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

Quan điể của đại diện Viện kiể sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị đơn ông Lâ Ngọc A.

Về án phí dân sự phúc thẩ : ông Lâ Ngọc A phải chịu án phí dân sự phúc thẩ được khấu trừ tạ ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 nă 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâ Ngọc A.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩ số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 nă 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Về án phí: Ông Lâ Ngọc A phải chịu 300.000 (ba tră nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩ , được khấu trừ 300.000 (ba tră nghìn) đồng tạ ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tiền tạ ứng án phí, lệ phí số 0010559 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bản án dân sự phúc thẩ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ