- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HSST Ngày 21 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ Á N NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy T
Ông Nguyễn Ngọc H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023 ta ̣i trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Dương Trung K, sinh ngày 10/9/1981; Nơi cư trú: Tổ 19, khu 3, phường V, thành phố V, tỉnh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Dương Văn D và bà Tạ Thị Thanh H; Có vợ là Trương Thị Như Qvà có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2013/HSST ngày 26/7/2013 của Toà án nhân dân thành phố V xử phạt Dương Trung K 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2019. K đã nộp án phì hình sự sơ thẩm ngày 20/3/2014.
Bị cáo Dương Trung K bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/06/2023. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xác định K là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định, thường xuyên tụ tập với những đối tượng nghiện trong và ngoài địa bàn gây mất an ninh trật tự nên ngày 11/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 25 phút ngày 06/06/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố V, tỉnh P đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ 13, khu 1, phường Dữu Lâu, thành phố V, tỉnh P, phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người này tự khai tên là Dương Trung K. Quá trình kiểm tra, K tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, K khai đây là ma túy Heroine của K tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, tạm giữ, niêm phong 01 gói giấy có đặc điểm nêu trên, ngoài ra còn tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số IMEI 862358060530226 kèm sim 0865263816. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối Dương Trung K. Kết quả: K dương tính với chất ma túy.
Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột cục màu trắng đã thu giữ khi bắt quả tang đối với K. Tại Kết luận giám định số 781/KL-KTHS ngày 09/06/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,252 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được qui định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Hoàn lại 0,136 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong mã số PS3A 105361, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
Nguồn gốc số ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Dương Trung K khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 10 giờ ngày 06/6/2023, K đi nhờ xe máy của một người qua đường, không quen biết từ nhà xuống khu vực chợ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, K gặp một người đàn ông K không biết tên, tuổi, địa chỉ, khoảng 40 tuổi, dáng người gầy giống người nghiện ma tuý. K hỏi và mua được của người này 01 gói ma tuý có đặc điểm là 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý Heroin với giá 500.000đ. Sau khi bán ma tuý cho K, người đàn ông này đi đâu K không biết. K cầm gói ma tuý mua được đến khu vực bãi đất trống, vắng người gần đó và mở gói ma tuý ra tách lấy một phần sử dụng cho bản thân bằng cách trích trực tiếp vào cơ thể. Phần ma tuý còn lại, K gói lại như cũ và đi về thành phố V. Khi đi đến khu vực gần chợ Dầu thuộc Khu 1, phường Dữu Lâu, thành phố V, tỉnh P thì tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố V yêu cầu kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Bị cáo K đã từng bị tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đến nay đã được xóa án tích. Tại Cơ quan điều tra, K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và ăn năn hối cải đối với hành vi do mình thực hiện. Ngoài ra, bố đẻ của bị cáo là ông Dương Văn Duyên được tặng Huân chương kháng chiến hang Ba.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Trung K ngày 06/06/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 241/QĐ-XPVPHC ngày 17/7/2023 bằng hình thức Cảnh cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy Dương Trung K ngày 06/06/2023, do K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Về vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 0,136 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 bì niêm phong số 781/KL-KTHS chứa của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P hoàn trả.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số IMEI 862358060530226 kèm sim 0865263816 là của K dùng để liên lạc hàng ngày.
Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh Cơ quan điều tra xác định, bị cáo Dương Trung K được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB815754, diện tích 655,3m2 tại thửa số 189, tờ bản đồ số 45, địa chỉ: Khu 3, phường V, thành phố V, tỉnh P. Nguồn gốc đất là nhận tài sản tặng cho. Ngoài ra, K không có tài sản gì khác.
Nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do K là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại Cáo trạng số: 126/CT-VKS-VT ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P đã truy tố bị cáo Dương Trung Kiêm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Dương Trung Kiêm từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 06/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số IMEI 862358060530226.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 781/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,136 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 sim số 0865263816 do không còn giá trị sử dụng.
- Các vấn đề khác:
+ Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Trung K ngày 06/06/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 241/QĐ-XPVPHC ngày 17/7/2023 bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp
+ Đối với người đàn ông bán ma túy Dương Trung K ngày 06/06/2023, do K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Dương Trung K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung
[2.1]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Trung K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 12 giờ 25 phút ngày 06/06/2023, tại tổ 13, khu 1, phường Dữu Lâu, thành phố V, tỉnh P, K có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,252 gam ma túy, loại Heroin với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh P phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Dương Trung K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[2.2]. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ là ông Dương Văn Duyên được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba do đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội liên quan đến ma túy. Với nhân thân, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được lỗi lầm của mình để sửa chữa, cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung:
Qua xác minh Cơ quan điều tra xác định, bị cáo Dương Trung K được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB815754, diện tích 655,3m2 tại thửa số 189, tờ bản đồ số 45, địa chỉ: Khu 3, phường V, thành phố V, tỉnh P. Tuy nhiên về nguồn gốc đất là nhận tặng cho nên Hội đồng xét xử không xem xét đến quyền sử dụng đất này.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen dùng để liên lạc hàng ngày và không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số: 781/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả, bên trong có chứa 0,136 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 sim điện thoại số 0865263816 do không còn giá trị sử dụng.
[5]. Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Trung K ngày 06/06/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 241/QĐ-XPVPHC ngày 17/7/2023 bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp
- Đối với người đàn ông bán ma túy Dương Trung K ngày 06/06/2023, do K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Tuyên bố bị cáo Dương Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Trung K 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 06/6/2023.
4. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số IMEI 862358060530226. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P).
5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong có số: 781/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả trong đó có 0,136 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định và 01 sim điện thoại số: 0865.263.816. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P).
6. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Trung K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh P; - VKSND TP. V, T. P; - CQCA TP. V, T. P; - THAHS, DS TP. V, T. P; - Trại tạm giam Công an tỉnh P; - UBND P. V, TP. V, T. P; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị H |