- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n QUẬN BA ĐÌNH thµnh phè Hµ Néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________ B¶n ¸n sè: 121/2023/HSST Ngµy: 03/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đình Trung Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Đức Lưu 2/ Ông Nguyễn Hà
- Thư ký phiên tòa: – Bà Phạm Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên. Ngày 03 th¸ng 8 n¨m 2023, Tại điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hà nội và điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Trại tạm giám số 01 – Công an thành phố Hà Nội, Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2023/TLST-HS ngµy 19/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2023/QĐXXST-HS ngày 20/7/2023 đối với các bị cáo: 1. Lê Quang T sinh năm 1975; Hộ khẩu thường trú và Chỗ ở: số 16 ngõ 629 K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C và bà Thân Thị L; Tiền án: 01 tiền án: Bản án Hình sự số 200/2020/HSST ngày 23/11/2020 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Lê Quang T 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra trại ngày 14/10/2021 (Chưa xóa án), Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án Hình sự số 14/1996/HSST ngày 30/12/1996 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Lê Quang T 07 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” ra trại ngày 22/6/1997 (Đã xóa án); Bị cáo bắt quả tang ngày 05/4/2023; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; (Có mặt tại phiên tòa). 2. Nguyễn Văn T sinh năm 1967; Hộ khẩu thường trú: Tổ 16 phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Số 6 ngách 145/72/10 C, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 05/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn D (Đã mất) và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ là: Nguyễn Thị O; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án Hình sự phúc thẩm số 1072/2016/HSPT ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản người khác phạm tội mà có” ra trại ngày 28/4/2018 (Đã xóa án); Bị cáo bắt quả tang ngày 05/4/2023; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17h00’ ngày 05 tháng 04 năm 2023, tổ công tác Công an phường Ngọc Khánh làm nhiệm vụ tuần tra khu vực đường N, phường N, quận B, Hà Nội thì phát hiện 02 đối tượng có biểu hiện nghi vấn là Lê Quang T và Nguyễn Văn T dựng xe ở phía bên ngoài rồi đi bộ vào bãi cỏ lối đi vào Công viên Thủ Lệ trên đường Nguyễn Văn Ngọc. Tổ công tác gồm đồng chí Phạm Đăng T và Nguyễn Minh T đã kiểm tra hành chính đối với Lê Quang T. Tổ công tác nhìn thấy đối tượng T dùng tay phải thả 03 (ba) gói giấy bạc màu xanh xuống đất (vị trí ngay phía sau giữa hai chân của T). Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 03 gói giấy bạc màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là heroin).
Cùng thời điểm đó, hai đồng chí khác trong tổ công tác là Ngô Hoàng H và Lưu Văn N cũng tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn T thì phát hiện bên trong người T có 02 xi lanh và 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng. T khai bản thân nghiện ma túy và trước đó có rủ T để cùng nhau sử dụng.
Tổ công tác tiến hành đưa T và T cùng phương tiện, tang vật về trụ sở Công an phường Ngọc Khánh để làm rõ. Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Văn T: + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live 4 màu xanh bên trong gắn sim số: 0375.408.173; Imei1: 354581112111811, Imei 2: 354581112111829.+ Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng; + 02 (hai) xi lanh chưa qua sử dụng; 02 (hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng; + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS: 29P1-893.70, số khung 7064404, số máy 0159233.
- Thu giữ của Lê Quang T:+ 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng bên trong gắn sim số: 0898.081.875; Imei1: 357263098274262; Imei 2: 357263098549820;+ Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá: 10.000 đồng. + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng, BKS: 29E1-180.53, số khung 35095Y003705, số máy 0003809.+ 03 (ba) gói giấy bạc màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 2198/KLGĐ-PC09 ngày 14/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,102 gam;
- Chất bột màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin khối lượng: 0,087 gam;
- Chất bột màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,113 gam.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T, Lê Quang T khai nhận: T và T quen nhau từ trước, khoảng 16h13’ ngày 05/4/2023, T sử dụng số điện thoại 0375.408.173 điện thoại cho T theo số 0898.081.875 rủ T mua ma túy về để cùng nhau sử dụng chung. T đồng ý, T và T hẹn gặp nhau ở khu vực UBND phường Ngọc Khánh. Sau đó T đi xe máy đến cửa UBND phường Ngọc Khánh chờ, khoảng 15 phút sau T đi xe máy đến đứng ở ngã ba Nguyễn Văn Ngọc - Kim Mã, hai người gặp nhau. Tại đây T đưa cho T 250.000 đồng, còn T góp thêm 50.000 đồng. T cầm tiền cất vào trong cốp xe máy và đi mua ma túy, còn T đi mua xi lanh và nước cất để cùng nhau sử dụng ma túy, T nói hẹn nhau ở cổng hổ Vườn thú Hà Nội, sau đó T đi vào khu vực chợ Ngọc Khánh tìm mua heroin. Khi đến chợ Ngọc Khánh, T gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 250.000đ tiền ma túy heroin (do không có tiền nên T không góp thêm 50.000đ), anh ta cầm tiền và đưa cho T 03 gói heroin bọc ngoài bằng giấy bạc màu xanh, T cầm 03 gói hêroin trong lòng bàn tay trái rồi đi xe máy đến bãi cỏ voi cổng hổ lối vào Công viên Thủ Lệ (trên đường đi T có gọi điện thoại báo cho T biết là đã mua được hêroin). T đến được một lúc thì T đi đến, khi T và T gặp nhau thì bị các đồng chí Công an phường Ngọc Khánh kiểm tra hành chính, lúc này T đang cầm 03 gói hêrôin vừa mua trong lòng bàn tay phải, do lo sợ nên T đã thả 03 gói hêroin xuống dưới đất ngay cạnh chân T nhưng bị tổ công tác Công an phường Ngọc Khánh phát hiện bắt giữ.
Lời khai nhận tội của Lê Quang T và Nguyễn Văn T phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Quang T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade BKS: 29P1-893.70 thu giữ của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác đinh chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị O (là vợ của Nguyễn Văn T). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho chị O, chị O đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe máy Honda Space BKS: 29E1-180.53 thu giữ của Lê Quang T, quá trình điều tra xác đinh chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Kim H (là chị gái của Lê Quang T). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho chị H, chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 14/7/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Truy tố: Bị cáo Lê Quang T, Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
Các Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Các Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,102 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin khối lượng: 0,087 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,113 gam; 02 Xi lanh; 02 lọ Novocain; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di dộng Vsmart Live4 mầu xanh lắp sim số 0375408173 thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Iphone XS Mã màu vàng bên trong lắp sim số 0898081875 thu giữ của Lê Quang T; (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thanh phố Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 168 ngày 01/8/2023). Trả lại cho Bị cáo Lê Quang T 10.000 đồng; Trả lại cho Bị cáo Nguyễn Văn T 500.000 đồng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo: Lê Quang T, Nguyễn Văn T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Quang T, bị cáo Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 05/04/2023, tại lối vào Cổng Công viên Thủ lệ, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T và Lê Quang T đã có đã có hành vi góp chung tiền để mua 0,302gam ma túy loại Hêrôin mục đích sử dụng cùng nhau, thì bị Tổ công tác Công an phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng; Bị cáo Lê Quang T, bị cáo Nguyễn Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi có ý trực tiếp; Các Bị cáo đồng phạm giản đơn; Hành vi của Bị cáo Lê Quang T, bị cáo Nguyễn Văn T đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của Bị cáo Lê Quang T, bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
. Viện kiểm sát truy tố Bị cáo Lê Quang T, bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lê Quang T có 01 tiền án: Bản án Hình sự số 200/2020/HSST ngày 23/11/2020 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Lê Quang T 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra trại ngày 14/10/2021 (Chưa xóa án) làn phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tuy nhiên nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã xóa án được xác định là có nhân thân xấu;
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhấn định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Các Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Các bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
+ 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,102 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin khối lượng: 0,087 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin là vật cấm lưu hành thấy cần tịch thu tiêu hủy;
+ 02 Xi lanh; 02 lọ Novocain là công cụ phương tiện phạm tội thấy cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 điện thoại di dộng Vsmart Live4 mầu xanh lắp sim số 0375408173 thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Iphone XS Mã màu vàng bên trong lắp sim số 0898081875 thu giữ của Lê Quang T là công cụ phương tiện phạm tội thấy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
(Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thanh phố Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 168 ngày 01/8/2023).
Số tiền 10.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Quang T và 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo thấy cần trả lại cho các bị cáo.
VÒ ¸n phÝ: C¨n cø §iÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n: Các Bị c¸o ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
V× c¸c lÏ trªn,
QUYÕT ®Þnh:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n. Xö phạt: Bị cáo Lê Quang T : 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2023. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n. Xö phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T : 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2023. Miễn hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Quang T, Bị cáo Nguyễn Văn T; Về xử lý vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,102 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin khối lượng: 0,087 gam; 01 gói giấy bạc màu xanh là ma túy loại Heroin; 02 Xi lanh; 02 lọ Novocain; + Tịch thu sung công quỹ nước: 01 điện thoại di dộng Vsmart Live4 mầu xanh lắp sim số 0375408173 thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Iphone XS Mã màu vàng bên trong lắp sim số 0898081875 thu giữ của Lê Quang T; (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thanh phố Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 168 ngày 01/8/2023). Trả lại cho bị cáo Lê Quang T số tiền 10.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng (Giấy nộp tiền ngày 31/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận ba Đình vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình tại Kho bạc nhà nước quận Ba Đình, thành phố hà Nội); VÒ ¸n phÝ: Mỗi Bị cáo ph¶i chÞu 200.000 (Hai tr¨m ngh×n) ®ång tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm. Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Trung |