- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày: 16-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sĩ Tiến
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2023/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1998 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp A, xã B, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 05/10/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 81/HSPT ngày 05/10/2021. Chấp hành xong ngày 10/5/2022.
Bị cáo bị bắt ngày 03/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 35 phút ngày 03/01/2023, tại trước nhà nghỉ X địa chỉ 139A đường A, phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, lực lượng Biên phòng Cửa khẩu Cảng Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Hoàng A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng, đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.
Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Ban Chỉ Huy Biên Phòng Cửa Khẩu Cảng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng A khai nhận: Bản thân Hoàng A sử dụng ma túy từ năm 2017 cho đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, trước khi bị bắt khoảng 15 ngày, Hoàng A liên hệ mua 02 gói ma túy đá (Methamphetamine) của một người thanh niên tên Bình (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.000.000 đồng tại khu vực Cảng Lagi, tỉnh Bình Thuận. Sau khi mua được ma túy, Hoàng A mang về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng dần. Đến khoảng 13 giờ 35 phút ngày 03/01/2023, Hoàng A mang theo ma túy điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-270.92 đến nhà nghỉ Xsố 139A đường A, phường B, TP Vũng Tàu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang như trên.
Lời khai của Nguyễn Hoàng A phù hợp với chứng cứ thu thập được, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Lê Văn Võ.
Tại Bản kết luận giám định số 47/KLGĐ – KTHS – MT ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: 02 (hai) gói nylon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình con dấu của Ban chỉ huy Biên Phòng cửa khẩu Cảng Bà Rịa – Vũng Tàu gửi giám định có khối lượng 0,5898 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng và các tài sản liên quan gồm:
- 02 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, qua giám định có khối lượng 0,5898 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định);
- 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 68M1 – 27092; số máy: JF66E-0774071; số khung: RLHJF5816GY476326.
Xử lý vật chứng: Qua xác minh, xe mô tô biển kiểm soát 68M1 – 27092 do ông Nguyễn Văn H (SN: 1976; Nơi cư trú: ấp Y, xã X, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang) là chủ sở hữu. Ông H cho Hoàng A mượn xe đi công việc, không biết Hoàng A dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe trên cho ông Nguyễn Văn H.
- 01 phong bì niêm phong số 47 ngày 01/9/2023 chứa mẫu ma túy mang đi giám định đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 26/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 47/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 13 giờ 35 phút ngày 03/01/2023, tại trước nhà nghỉ X số 139A đường A, phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, lực lượng Biên phòng Cửa khẩu Cảng Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Hoàng A đang tàng trữ trái phép 0,5898 gam ma túy, loại Methamphetamine. Nguyễn Hoàng A tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức đầy đủ, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 03/01/2023 chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, vì vậy thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong số 47/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chứa mẫu ma túy mang đi giám định đã sử dụng hết, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 68M1 – 27092; số máy: JF66E-0774071; số khung: RLHJF5816GY476326. Qua xác minh, xe mô tô biển kiểm soát 68M1 – 27092 do ông Nguyễn Văn H (SN: 1976; Nơi cư trú: ấp Y, xã X, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang) là chủ sở hữu. Ông H cho Hoàng A mượn xe đi công việc, không biết Hoàng A dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe trên cho ông Nguyễn Văn H là đúng quy định của pháp luật.
Đối tượng tên Bình đã bán ma túy cho Hoàng A (không rõ nhân thân lai lịch), đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V c c l rên
U T ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng A, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2023.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 47/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 203/BB.CCTHADS ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thành phố Vũng Tàu; - Công an thành phố Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Thị Thu Nga |