- Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm văn T tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày 12 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Đỗ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Duy Khiêm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/9/2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2023/TLST-HS ngày 18/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày 19 tháng 5 năm 1995 tại V, Lào Cai; nơi thường trú: thôn É, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai; nơi ở hiện tại: tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân công ty T3; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Hoàng Thị T1; vợ: Phan Thị H; con: 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 12/5/2023; tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.
* Người làm chứng: ông Phạm Hồng U; ông Trịnh X uân T2 - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 12/5/2023, tại tổ D, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,187 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố C bắt quả tang.
Tại phiên tòa, Nguyễn Văn T khai nhận: Tiếp sử dụng ma túy Heroine từ năm 2021. Khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 12/5/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, biết K có ma túy bán, T dùng số điện thoại 0386.436.645 gọi đến số 0906.115.892 của K hỏi mua 400.000 đồng Heroine, K đồng ý và hẹn T đến khu vực trước rạp Công nhân, phường C để giao dịch. Tiếp điều khiển xe mô tô biển số 14H2-9239 đến điểm hẹn và đi theo K vào trong ngõ khu vực cầu B, đưa cho K 400.000 đồng, nhận lại 01 gói giấy vệ sinh bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng chứa Heroine, rồi K bỏ đi. Khi T đang tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Số tiền mua ma túy do Tiếp lao động mà có.
Những người làm chứng anh Phạm Hồng U; anh Trịnh Xuân T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện nội dung chứng kiến việc cơ quan công an bắt giữ Nguyễn Văn T và thu giữ của Tiếp trên tay phải của T 01 gói giấy vệ sinh trong chứa 02 gói giáy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng mà T khai là ma túy heroine mua về sử dụng và 01 điện thioại di động, 01 xe máy biển số 14H2-9239. Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSCP ngày 14/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/5/2023; về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy và vỏ bao hoàn lại sau giám định; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi, trả lại xe mô tô Jupiter cho bị cáo vì không liên quan đến việc phạm tội. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo khai bị cáo nghiện ma tuý, ngày 12/5/2023 sau khi mua được 02 gói ma tuý của K với giá 400.000 đồng, bị cáo đang tìm chỗ sử dụng thì bị bắt giữ đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đồng thời phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 12/5/2023, tại tổ D, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,187 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma tuý khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù, hiểu rõ tác hại của ma túy song do ý thức chấp hành pháp luật kém, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của mình bị cáo đã cất giữ ma túy trong người. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội, có thái độ khai báo thành khẩn nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo do đó mức đề nghị xét xử của kiểm sát viên tại phiên toà có phần nghiêm khắc so với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng nghiện nên không cần thiết áp dụng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án: 0,187 gam Heroine, sau giám định hoàn lại 0,08 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy và 01 vỏ bao là vật không có giá trị sử dụng trong cùng niêm phong số 588/KL-KTHS nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Redmi màu đen, lắp 2 sim là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 xe mô tô Yamaha Jupiter biển số 14H2-9239 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đên việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Đối với người tên K, theo T khai là người bán ma túy cho T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ; Cơ quan cảnh sát điều tra đã có công văn yêu cầu Tổng công ty V tra cứu chủ thuê bao số điện thoại 0906.115.892 nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục điều tra, nếu làm rõ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 12/5/2023.
- Về vật chứng: căn cứ: điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 588/KL-KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh Q; trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jumpiter biển số 14 H, xe có 1 chìa khoá, không có gương chiếu hậu, số khung: VYA-J5VT13YA007617, số máy: 5VT107617; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Redmi, màu đen kèm theo 02 Sim; tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 164/BB-THA ngày 11/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QN; - VKSND tỉnh QN ; - VKSND TP.Cẩm Phả; - CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả; - Trại tạm giam công an tỉnh QN; - CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ; - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |