- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Van C "Vi pham quy dinh ...khai thac, bao ve rung va lam san" - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Hồng H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 232 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HS-PT Ngày: 28 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hồng
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý Số 157/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn C và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn C, sinh năm: 1990 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Phạm Thị T1; vợ Phạm Thị Hồng H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 19/7/2022 bị Hạt kiểm lâm xử phạt hành chính về hành vi “Mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép”, mức phạt 15.000.000đ, chấp hành ngày 21/7/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến ngày 13/01/2023 thì được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
2. Vũ Hồng H1, sinh năm: 1988 tại Hà Nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H2 và bà Trần Thị B; vợ: Nguyễn Thị N và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 25/7/2022 bị Hạt kiểm lâm xử phạt hành chính về hành vi “Mua bán vận chuyển lâm sản trái phép”, mức phạt 20.000.000đ, chấp hành ngày 03/8/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến ngày 13/01/2023 thì dược thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11 năm 2022, Trần Văn C lên khu rừng gần nhà tại thôn P, xã P, huyện Đ khai thác phần gốc, rễ cây thông, lấy củi ngo, đồng thời Trần Văn C còn mua củi ngo của người dân ở dịa phương để bán lại kiếm lời. Sau thời gian tích lũy được số lượng lớn, đến sáng ngày 18/12/2022, C gọi điện thoại cho Vũ Hồng H1 và thuê H1 chở 25 bao tải củi ngo từ nhà C ra chợ Đ với giá 3.000.000đ, Hiệp đồng ý. Đến trưa ngày 18/12/2022 H1 điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 51B-507.14 đến nhà C để bốc 25 bao tải củi ngo lên xe, sau đó H1 điều khiển xe ô tô theo hướng Quốc lộ B ra Đ. Khi đến địa bàn thôn T, xã P thì lực lượng công an phát hiện và có biểu hiện nghi vấn, nên ra hiệu dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên H1 không chấp hành mà tiếp tục điều khiển xe đi về hướng xã Đ, khi tới địa bàn thôn T, xã Đ, thấy lực lượng công an vẫn đuổi theo, nên H1 dừng xe và chấp hành làm việc với lực lượng công an.
Quá trình làm việc cơ quan công an xã thu giữ 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 51B-507.14; 25 bao tải củi ngo có tổng trọng lượng là 1.921,5kg, 01 chiếc rìu lưỡi sắt, cán gỗ dài 5,5 cm.
Theo kết luận định giá số 24 ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tổng giá trị 25 bao tải củi ngo có giá là 9.607.500đ.
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông truy tố bị cáo Trần Văn C, Vũ Hồng H1 về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS 2015).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn C, Vũ Hồng H1 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt:
- Bị cáo Trần Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến ngày 13/01/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Bị cáo Vũ Hồng H1 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến ngày 13/01/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 29/5/2023 các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo cho các bị cáo được hưởng án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Hồng H1 do có vai trò đồng phạm không đáng kể, là người chở thuê cho bị cáo C, áp dụng Điều 65 BLHS 2015 cho bị cáo H1 được hưởng án treo và áp dụng thời gian thử thách theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:
Xét đơn kháng cáo của các bị cáo gửi đến Tòa án trong hạn luật định và đúng quy định nên thời hạn kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Ngày 18/12/2022 Trần Văn C thuê Vũ Hồng H1 chở 25 bao tải củi ngo ra chợ Đ với giá 3.000.000đ để bán. Nguồn gốc lâm sản nói trên do C tự lấy trong rừng tự nhiên và thu mua của người dân tại thôn P, xã P, huyện Đ. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện yêu cầu dừng xe để kiểm tra lâm sản theo quy định, bị cáo Vũ Hồng H1 không chấp hành lệnh dừng xe, mà tiếp tục điều khiển phương tiện bất chấp yêu cầu của lực lượng chức năng, cho đến khi bị truy đuổi trên đoạn đường dài, bị cáo mới dừng xe, lực lượng chức năng đã lập biên bản phạm tội quả tang. Theo kết luận định giá số 24 ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tỉnh Lâm Dồng, tổng giá trị 25 bao tải củi ngo có giá là 9.607.500đ. Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã tuyên xử đối với các bị cáo. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo đã được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố các bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của các bị cáo; HĐXX thấy rằng khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm đã đánh giá, xem xét vai trò tham gia tội phạm của các bị cáo, các bị cáo có hành động, thái độ xem thường pháp luật; xem xét về nhân thân và diễn biến hành vi phạm tội áp dụng cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 để xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 tháng tù; bị cáo Vũ Hồng H1 08 tháng tù, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo C có vai trò chủ mưu nên phải nhận mức hình phạt nghiêm khắc nhằm đảm bảo công tác phòng chống tội phạm về quản lý, bảo vệ rừng hiện nay nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đối với bị cáo H1 tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, là người vận chuyển do bị cáo C thuê. Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo. HĐXX xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, không cần cách ly bị cáo H1 ra khỏi xã hội cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những nhận định trên HĐXX không chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo Trần Văn C, chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo Vũ Hồng H1, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Hồng H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn C, Vũ Hồng H1 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2022 đến ngày 13/01/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng H1 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28-8-2023).
Giao bị cáo Vũ Hồng H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn C, phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Đam Rông (06); - VKSND huyện Đam Rông (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Đam Rông (01); - Cơ quan THAHS CA huyện Đam Rông (01); - Chi cục THADS huyện Đam Rông (01); - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hữu Hồng |