vanban.org

Bản án 121/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Thị Đ 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2022/HSST
Ngày: 28/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vàng Thị Thu; Ông Nguyễn Xuân Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lò Thị Đ, tên gọi khác: Không, sinh năm 1997, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã N, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Bản S, xã V, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Mảng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lò A H, sinh năm 1951 và con bà: Lò Thị C (đã chết); Bị cáo có chồng là: Lò Văn T (đã chết) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu từ ngày 29/4/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Lý Khừ C, sinh năm 1990

Địa chỉ: Bản S, xã V, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 20/4/2022, Lò Thị Đ, sinh năm 1997, trú tại bản S, xã V, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông dân tộc Dao lạ mặt đến gặp và nói chuyện. Qua trao đổi, Đ mua được của người này một gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được Heroine, Đ đem chia nhỏ thành 16 gói riêng biệt, mỗi gói được gói bên ngoài bằng một mảnh nilon màu xanh. Đ chia 16 gói Heroine này thành hai phần: Phần thứ nhất là 12 gói Heroine, Đ cho vào trong một lọ nhựa màu xanh rồi đemcất giấu vào trong ống tre xà nhà phía đầu giường ngủ; phần thứ hai là 04 gói Heroine còn lại, Đ cho vào trong một chiếc hộp nhựa màu trắng và cất giấu vào trong túi áo khoác treo ở gần giường ngủ. Khoảng 18 giờ ngày 21/4/2022, trong khi Đ đang ở nhà một mình thì có Lý Khừ C, sinh năm 1990, trú tại bản S, xã V đến gặp và hỏi mua Heroine để sử dụng. Qua trao đổi, Đ đã lấy 01 gói Heroine cất giấu ở trong ống tre bán cho C để lấy số tiền 50.000 đồng. Sau đó, C đã lấy số Heroine đó ra sử dụng (chích) ngay tại nhà Đ (C tự ý sử dụng mà không xin phép Đ, Đ biết nhưng bỏ mặc). Khi C vừa sử dụng hết số Heroine đã mua được, thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè phát hiện bắt quả tang. C khai nhận số Heroine vừa sử dụng là do mua của Lò Thị Đ với giá 50.000 đồng. Lò Thị Đ cũng thừa nhận việc đã bán Heroine cho C và mang số tiền 50.000 đồng cùng 15 gói Heroine còn lại đang tàng trữ trái phép ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng đã thu giữ được theo quy định.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 40 cùng ngày 21/4/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường Tè, đã kết luận: 15 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Thị Đ có tổng khối lượng là 1,28 gam

Tại bản kết luận giám định số 349 ngày 27/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 15 mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến Mẫu 15) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 350 ngày 25/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng có mã ký hiệu WJ 21690441 gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 69/CT- VKSMT ngày 18/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lò Thị Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Thị Đ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: 1,28 gam Heroine đã gửi giám định không hoàn lại nên không đề cập giải quyết.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 15 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 hộp nhựa màu trắng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, không bổ sung gì chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp, thấp nhất của khung hình phạt và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí không bổ sung gì vào bản luận cứ và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ, ngày 21/4/2022, tại Nhà ở của mình thuộc bản Sang Sui, xã Vàng San, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Lò Thị Đ đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Lý Khừ C để lấy số tiền 50.000 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, Đ còn tàng trữ trái phép 1,28 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Số Heroine mà Đ tàng trữ trái phép và số Heroine Đ đã bán cho C có cùng chung nguồn gốc. Toàn bộ số vật chứng nói trên đã được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Lò Thị Đ có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Thị Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và để hưởng lợi mà vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, ngoài ra còn là lao động chính trong gia đình. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là chưa đảm bảo tính răn đe nên Hội đồng xét xử không chấp nhận

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lò Thị Đ khai mua của người đàn ông lạ mặt người Dao nhưng không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với Lý Khừ C sau khi mua được Heroine của Đ, C đã sử dụng hết. Ngày 11/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Tè đã xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

Hành vi Đ bỏ mặc cho C sử dụng trái phép chất ma túy tại Nhà ở của mình: Do hành vi bỏ mặc (01 người) nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xử lý vật chứng: Số Heroine (1,28 gam) đã gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại đã được bàn giao đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 18/8/2022 gồm 15 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh; 01 hộp nhựa màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Đối với 15 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh; 01 hộp nhựa màu trắng tất cả đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng bị cáo đã bán ma túy cho Lý Khừ C mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điều 106; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Thị Đ 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bị cáo vào trại chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu 15 mảnh nilon màu xanh; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh; 01 hộp nhựa màu trắng để tiêu hủy.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 18/8/2022).

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ