- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Hiếu phạm tội "Tàng trữ chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HS-ST Ngày: 06 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU- TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình Hoằng và ông Lương Văn Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2022/TLST-HS ngày 04/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST-HS ngày 18/7/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/7/1995 tại Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT: 02 đường M, Tổ 03, phường Y, thành phố P, tỉnh G; Nơi cư trú trước khi bị bắt: 67 đường T, Tổ 06, phường T, thành phố P, tỉnh G; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hường và bà Mai Thị Xuân Thủy; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2022 đến ngày 16/5/2022, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Pleiku. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Châu Viết H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: 67 đường T, Tổ 06, phường T, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt
* Người chứng kiến:
Ông Lê Đức Việt, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ 02, phường T, thành phố P, tỉnh Gia L. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung H là đối tượng sử dụng ma túy. Thông qua bạn bè ngoài xã hội, H đã dò hỏi và biết được số điện thoại của một người thanh niên tên Minh (không rõ nhân thân và lai lịch) là người bán ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 06/5/2022, H gọi điện thoại cho Minh hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy dạng thuốc lắc để sử dụng, Minh đồng ý và hẹn gặp nhau tại trước số nhà 67 đường Hàn Mặc Tử, Tổ 06, phường Trà Bá, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Minh đến đưa cho H 05 viên thuốc lắc rồi H đưa cho Minh số tiền 1.500.000 đồng. Số ma túy này, H cất giấu vào hộp van khóa nước trong phòng vệ sinh. Sau đó, H đã sử dụng hết 02 viên, còn lại 03 viên, H cất giấu sử dụng dần. Đến 23 giờ ngày 07/5/2022, khi H đang ở nhà trọ số 67 đường Hàn Mặc Tử thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Công an thành phố Pleiku phối hợp với Công an phường Trà Bá bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm: 03 viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 89840 48000 7339) và 120.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Tại Kết luận giám định số 290/KLGĐ ngày 16/5/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “03 viên nén màu xanh trong 01 bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,2506 gam”.
Tại bản Cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 01/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn ghi số 290/PC09 ngày 16/5/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, 01 sim số là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy, Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu Ngân sách Nhà nước, Trả lại cho bị cáo số tiền 120.000 đồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ ngày 07/5/2022 tại số nhà 67 đường T, Tổ 06, phường T, thành phố P, tỉnh G, Nguyễn Trung H đang tàng trữ 1,2506 gam chất ma túy loại MDMA với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Pleiku phát hiện bắt quả tang. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Trung H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Xét bị cáo phạm tội nhưng không có thu nhập ổn định và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 (một) bì công văn ghi số 290/PC09 ngày 16/5/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 sim số là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu Ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 120.000 đồng không liên quan gì đến phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
Đối với đối tượng tên Minh là người mà Nguyễn Trung H khai đã bán ma túy vào ngày 06/5/2022, quá trình điều tra do H không biết rõ nhân thân, lai lịch, không xác định được số điện thoại của Minh nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy bì công văn ghi số 290/PC09 ngày 16/5/2022, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và 01 sim số.
Tịch thu Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại đi động hiệu Samsung, màu đen.
Trả lại cho bị cáo số tiền 120.000 đồng.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, đặc điểm, số lượng, chủng loại theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/8/2022 giữa Công an thành phố Pleiku và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (06/9/2022), bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt tại phiên tòa là kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố Pleiku; - Công an thành phố Pleiku; - Chi cục THADS thành phố Pleiku; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Loan Phƣơng |