vanban.org

Bản án 121/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1466/KL - KTHS ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T - TTTP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐT
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:121/2022/HS - ST
Ngày 29 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thu Trà

Ông Lưu Xuân Giới

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng M Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2022/TLST - HS ngày 02 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/1991, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn 1, xã NH, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang S và bà Phạm Thị L; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/9/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Hùng M, sinh năm 1983; địa chỉ: khu MX1, phường HĐ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

* Người chứng kiến: ông Lê Văn Đ và ông Bùi Hoài G, đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 08/9/2022, qua công tác tuần tra tại khu ĐT, phường HP, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã ĐT phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Anh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 02 (hai) gói giấy bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M1, M2). Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14Z1-156.46, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Hùng M và 01 (một) điện thoại Iphone 6s màu hồng, gắn sim số 0793890017.

Tại bản Kết luận giám định số 1466 ngày 14/9/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật ký hiệu M1, M2 gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine; Khối lượng M1: 0,176gam (không phẩy một bảy sáu gam), M2: 0,073gam (không phẩy không bảy ba gam). Tổng khối lượng 0,249gam (không phẩy hai bốn chín gam).

(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT: 09 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Quá trình điều tra, Nguyễn Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, T khai: Khoảng 08 giờ ngày 08/9/2022, T được một người đàn ông tên Xuân (là bạn xã hội, không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua hộ 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy để cả hai cùng sử dụng thì T đồng ý. Khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-156.46 đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ 18 và đường đi về phía Cầu Triều, thuộc phường HP, thị xã ĐT gặp Xuân lấy tiền. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi sang khu vực thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương gặp 01 (một) người tên Dũng (không rõ lai lịch, địa chỉ) thỏa thuận mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy, loại Heroine được 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng. Biết đây là ma túy, T xé ra chia thành 02 (hai) gói nhỏ cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu ĐT, phường HP, thị xã ĐT, T dừng xe để chờ Xuân đến thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-156.46 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Hùng M, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hùng M (là đồng nghiệp công ty TNHH xây dựng Thắng Lợi của Nguyễn Anh T), việc T mượn xe mô tô đi mua ma túy anh M không biết. Ngày 18/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã trả lại xe mô tô cùng giấy tờ liên quan cho anh M.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hùng M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: anh và Nguyễn Anh T làm cùng phân xưởng cơ khí thuộc Công ty TNHH xây dựng Thắng Lợi. Ngày 26/8/2022, anh đi công tác tại huyện Hải Hà. Trước khi anh đi công tác, T có mượn anh chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-156.46 để đi lại. Do thời gian đi công tác lâu, không sử dụng đến xe nên anh đã đồng ý cho T mượn xe và giấy tờ xe để trong cốp tiện cho việc di chuyển của T. Ngày 11/9/2022, anh mới biết T bị bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chiếc xe mô tô của anh là vật chứng trong vụ án. Anh không có mâu thuẫn với T, không biết việc T dùng xe mô tô của mình thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-156.46 anh đã được nhận lại, anh không có yêu cầu gì thêm.

Người chứng kiến ông Lê Văn Đ và ông Bùi Hoài G vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/9/2022, các ông được cơ quan Công an mời đến khu ĐT, phường HP, thị xã ĐT, để chứng kiến lực lượng Công an tiến hành kiểm tra một nam thanh niên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nam thanh niên khai nhận tên Nguyễn Anh T, thu giữ tại lòng bàn tay trái của nam thanh niên 02 (hai) gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Nam thanh niên khai chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin, mua về mục đích để sử dụng. Sau đó cơ quan Công an lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 125/CT- VKS - ĐT ngày 31 - 10 - 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 08/9/2022

- Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1466/KL - KTHS ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 sim điện thoại số 0793.890.017.

+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã ĐT, lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 08/9/2022 tại khu ĐT, phường HP, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ 20 phút ngày 08/9/2022, tại khu ĐT, phường HP, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,249gam (không phẩy hai bốn chín gam) chất ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thị xã ĐT phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự;

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Quang Sáng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, Huy chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 08/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1466/KL - KTHS ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) sim điện thoại số 0793.890.017.

+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 14 ngày 01 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

(đã ký)

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- NTG Công an thị xã ĐT;

- Lưu: hồ sơ, VP.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- NTG Công an thị xã ĐT;

- Lưu: hồ sơ, VP.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;

- Lưu: hồ sơ, VP.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS thị xã ĐT;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Lưu hồ sơ, VP./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Công an Thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh

Trần Thị Như Quỳnh

- Lưu hồ sơ, VP./.

Cỡ chữ