- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ qua…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HS-PT Ngày: 07/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy, ông Phạm Anh Tuyết
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký tạm trú và nơi cư trú: Khu 8, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị D; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.837.308.025-981-22-000396/QĐ-XPHC ngày 26/4/2022, Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn T 18.000.000 đồng về hành vi điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở và không có giấy phép lái xe; T đã nộp phạt ngày 27/4/2022; hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2021, do có nhu cầu làm bằng lái xe ô tô hạng B2, do tình hình dịch bệnh COVID-19 và không muốn đi học nên Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại Iphone 7plus màu đen, gắn sim số thuê bao0386.069.345 của T đăng nhập facebook “Nguyễn T” để tìm người làm giấy phéplái xe ô tô giả. Thấy FB có tên “Huyền Trang -Trung tâm sát hạch lái xe các loại” (viết tắt FB Huyền Trang) (số điện thoại để liên hệ là: 0582.515.119) đăng bài có thể làm giấy phép lái xe ô tô giả mà không cần thi, T nhắn tin cho người dùng FB trên thì biết giá tiền để làm giấyphép lái xe ô tô hạng B2 giả là 6.000.000đồngbao gồm giấy phép lái xe ô tô và đầy đủ hồ sơ, cam đoan là bằng thật. T đồng ý và gửi ảnh chứng minh nhân dân hai mặt, ảnh chân dung của T cho FB Huyền Trang qua ứng dụng Messenger để làm bằng lái xe ô tô B2. Khoảng 1 tuần sau, T nhận được hồ sơ gồm: Bảng tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đã có kết quả thi, chấm điểm nhưng chưa có thông tin người thi, đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe. Nhận được bộ hồ sơ trên T liên hệ với FB Huyền Trang để được hướng dẫn điền đầy đủ thông tin vào bảng tổng hợp kết quả sát hạch lái xe. T đã nộp 4.000.000đồng vào tài khoản ngân hàng do FB Huyền Trang cung cấp (hiện không nhớ tài khoản) tại ngân hàng BIDV thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Hải Dương. Vài ngày sau T nhận được 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: 240219007678 mang tên Nguyễn Văn T cấp ngày 10/01/2021 có giá trị đến ngày 10/01/2031 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp. T thanh toán cho nhân viên giao hàng (không nhớ tên, tuổi, địa chỉ) số tiền 2.000.000đồng. Khoảng 23 giờ ngày 16/4/2022, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34A-050.25 chở anh Vũ Đình Th1 ở xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương tham gia giao thông đi trên đường Quốc lộ 5, khi đi đến khu vực ngã ba TT, phường AQ, thành phố Hải Dương thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát giao thông- Công an tỉnh Hải Dương yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn. Do trong hơi thở của T có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0,25mlg/1lít khí thở, khi kiểm tra T không xuất trình được giấy phép lái xe ô tô nên tổ công tác lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện là xe ô tô 34A-050.25 và hẹn 8 giờ ngày 26/4/2022 có mặt tại Đội xử lý vi phạm Phòng CSGT- Công an tỉnh Hải Dương để giải quyết vụ việc. Khoảng 9 giờ ngày 26/4/2022 T đến Phòng CSGT- Công an tỉnh Hải Dương xuất trình 01 Giấy phép lái xe ô tô số 240219007678 hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 10/01/2021, có giá trị đến ngày 10/01/2031, mang tên Nguyễn Văn T; Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T cho cán bộ xử lý. Sau khi kiểm tra, cán bộ Phòng CSGT Công an tỉnh Hải Dương nghi ngờ Giấy phép lái xe ô tô do T xuất trình là giả nên đã lập biên bản, tạm giữ Giấy phép lái xe nói trên, căn cước công dân của T và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương để xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 06/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận về đối tượng giám định: Giấy phép lái xe ô tô Số/No 240219007678 (ký hiệu A) là giả toàn phần - giả phôi, hình dấu, chữ ký. Tại công văn số 640/SGTVT-QLVT,PT&NL ngày 12/5/2022, Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cung cấp: Trong cơ sở dữ liệu phần mềm quản lý Giấy phép lái xe ô tô của Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang không thấy có tên cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 240219007678 cấp ngày 10/01/2021 cho anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/01/1990, địa chỉ: Xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HS-ST ngày 16/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày thi hành án về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức". Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 28/9/2022, bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với T và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, biên bản xác minh sự việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tháng 4 năm 2021, Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại di động đăng nhập facebook tài khoản tên “Nguyễn T” và kết nối với trang facebook có tên “Huyền Trang - Trung tâm sát hạch lái xe ô tô các loại” thuê làm 01 Giấy phép lái xe ô tô ô tô hạng B2 mang tên Nguyễn Văn T với số tiền là 6.000.000đồng. T đã cung cấp ảnh chụp chứng minh nhân dân, ảnh chân dung của bản thân cho người không rõ nhân thân, lý lịch để làm giả 01 Giấy phép lái xe ô tô số 240219007678 hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 10/01/2021, có giá trị đến ngày 10/01/2031 mang tên Nguyễn Văn T. Do đó cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
. Xét kháng cáo của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ gồm: Bị cáo thành khẩn khai báo và bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo khi tham gia giao thông ngoài việc sử dụng giấy phép lái xe giả còn có nồng độ cồn trong hơi thở (chưa vượt quá 0,25mlg/1lit khí thở), thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo một xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung là phù hợp nhưng mức hình phạt 10 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do vậy, Hội đồng xét xử chiếu cố giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật. Do bị cáo tại ngoại và bị phạt tù giam nên cần quyết định bắt, tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa để đảm bảo cho việc thi hành án.
. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với Nguyễn Văn T.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 349 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 tháng tù về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bắt và tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND thành phố Hải Dương; - CQCSĐT - CA thành phố Hải Dương; - CQTHAS - CA tỉnh Hải Dương - VKSND thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Hiệu |