vanban.org

Bản án 121/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T. Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 04/01/2018 của UBND phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà H và ông T hết hiệu lực kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 7 - 2022
V/v tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình –
Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Vũ.

2. Bà Phan Hoàng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 173/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ngọc H, sinh năm 1991; vắng mặt; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số 582, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1988; vắng mặt.

Địa chỉ: Số 136B/6, tổ 6, khóm B, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 21/4/2022, Bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng tháng 6 năm 2017 âm lịch, bà và ông T tự tìm hiểu và yêu thương nhau; ông bà có tổ chức lễ cưới vào ngày 01/01/2018 dưới sự chứng kiến của cha mẹ hai bên và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 04/01/2018. Hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống; tính tình không phù hợp. Do đó bà và ông T đã chính thức ly thân vào tháng 10 năm 2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không một lần tới lui. Do tình cảm của vợ chồng dành cho nhau không còn; do đó, bà có yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên K, sinh ngày 18/9/2018 hiện đang do bà nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung thành niên. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, bà cho rằng ông T có mức thu nhập không cao; do đó, bà chỉ yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông T đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án;

Nguyên đơn bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 06/6/2022 với lý do bận công việc.

Bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T và có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Bị đơn của vụ án là ông T có đăng ký tạm trú tại số 136B/6, tổ 6, khóm B, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông T theo quy định tại Điều 171, Điều 175, Điều 177 và Điều 179 BLTTDS nhưng ông T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của ông T không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Bà H có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày, vào khoảng tháng 6 năm 2017 âm lịch, bà và ông T tự tìm hiểu và yêu thương nhau. Ông bà có tổ chức lễ cưới vào ngày 01/01/2018 dưới sự chứng kiến của cha mẹ hai bên và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 04/01/2018. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Do đó bà và ông T chính thức ly thân vào tháng 10 năm 2021. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không một lần tới lui. Do tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, do đó, bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Chứng minh cho lời trình bày trên, bà H có cung cấp cho Tòa án Bản sao Trích lục kết hôn số 20/TLKH-BS ngày 21/4/2022 của UBND phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà H và ông T; Giấy khai sinh của cháu K, sinh ngày 18/9/2018. Như vậy, bà H đã thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của BLTTDS. Ngược lại, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông T vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS. Do đó, lời trình bày và chứng cứ mà bà H cung cấp là cơ sở để Tòa án xác định hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận nhưng vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn làm cho vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau kể từ tháng 10 năm 2021 đến nay là có thật; cho thấy, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H có yêu cầu được ly hôn ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Bà H xác định quá trình chung sống, bà với ông T có một con chung tên K, sinh ngày 18/9/2018. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống cho đến nay, cháu K sống chung với bà H; dưới sự chăm sóc, giáo dục của bà H thì cháu K sinh sống ổn định và phát triển bình thường; cho thấy bà H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K. Vì vậy việc bà H yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi cháu K là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, ông T vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà H yêu cầu ông Tiến cấp dưỡng nuôi con chung là cháu K, sinh ngày 18/9/2018 theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó, HĐXX buộc ông Tiến phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung:

Tại khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về mức cấp dưỡng như sau: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Và tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về phương thức cấp dưỡng: “Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần”. Ông T không tham dự phiên tòa nên các bên không tự thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con nên mức cấp dưỡng nuôi con sẽ do Tòa án quyết định. Theo lời trình bày của bà H trong quá trình giải quyết vụ án thì ông T có mức thu nhập không cao. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống của con chung, HĐXX buộc ông T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng bằng ½ mức lương cơ sở hiện nay là phù hợp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2019 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang thì mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng/tháng. Do đó, HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng với số tiền là 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi; trừ trường hợp thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án là ngày 11/7/2022. Mức cấp dưỡng sẽ được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

Bà H cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; không ai được quyền ngăn cấm.

Về quan hệ tài sản chung: Bà H trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này các bên chứng minh vợ chồng có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không tự thỏa thuận phân chia được thì có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn ở vụ án khác.

Về quan hệ nợ chung: Bà H trình bày vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX cũng không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này có bên thứ ba bất kỳ chứng minh được nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà H vẫn phải cùng ông T liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001210 ngày 28/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh An Giang.

- Ông T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng của người có nghĩa vụ nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 04/01/2018 của UBND phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà H và ông T hết hiệu lực kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà H được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung K, sinh ngày 18/9/2018.

Ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng); mỗi tháng cấp dưỡng một lần. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày 11/7/2022. Ông T nộp trực tiếp cho bà H hoặc nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; trừ trường hợp thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Việc nuôi con chung không cố định. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng cho con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001210 ngày 28/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp đủ án phí.

- Ông T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng của người có nghĩa vụ nuôi con chung.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ